Văn mẫu lớp 9

Phân tích truyện ngắn cố hương

Phân tích truyện ngắn cố hương

Tổng hợp những bài làm văn Phân tích truyện ngắn cố hương hay nhất của các bạn học sinh giỏi văn đạt điểm cao. Mời các bạn đọc tham khảo và dựa vào đây viết cho mình một bài văn Phân tích truyện ngắn cố hương thật hay. Chúc các bạn luôn luôn học tập tốt.

Phân tích truyện ngắn cố hương – Bài làm 1

Lỗ Tấn (1881 – 1936) là nhà văn cách mạng nổi tiếng của Trung Quốc. Truyện “ Cố hương"  là một truyện ngắn tuyệt hay và xúc động. Nó man mác một tình quê vơi đầy. Nó ghi lại một cách chân thực, cảm động ký ức tuổi thơ. Nó phản ánh số phận những con người quê hương với bao nỗi buồn thương và hi vọng.

Các nhân vật như tôi, mẹ tôi, cháu Hoàng, Nhuận Thổ, Thủy Sinh, chị Hai Dương – là những con người của quê hương, gợi ra bao nỗi buồn vui về nơi chôn rau cắt rốn sâu nặng nghĩa tình.

Sau 20 năm xa cách “tôi” về thăm quê. Phải vượt qua 2000 dặm giữa một mùa đông lạnh giá. Lòng “tôi” bồi hồi khôn xiết. Gió lạnh vi vu thổi vào khoang thuyền. Gần về đến làng, trời càng u ám, xóm thôn xa dần, thấp thoáng tiêu điều, hoang vắng… lòng “tôi" se lại,  về quê thì phải vui sao lại buồn? “Tôi” tự hỏi có phải đây là làng cũ thân yêu trong ký ức nữa không?

Chuyến về thăm quê này rất đăc biệt, về để bán nhà, giao nhà lại cho chủ mới. Về để từ giã ngôi nhà cũ – nơi cả đại gia đình “chúng tôi” đời đời ở chung với nhau. Sao không buồn đươc, vì sau 20 năm đi xa, lần này “tôi" trở về là để “vĩnh biệt ngôi nhà yêu dấu và từ giã làng cũ thân yêu đem gia đình đến nơi đất khách tôi đang làm ăn sinh sống”.

Quê hương thường gắn liền với phần mộ tổ tiên ông bà. Trong "Cố hương"  không thấy nói đến. Tác giả chỉ xúc động nói đến ký ức tuổi thơ khoảng chừng 30 năm về trước. Một tình bạn đẹp tuổi thơ độ lên mười với Nhuận Thổ – con trai của một người làm thuê cho gia đình "tôi”. Nhờ Nhuận Thổ mà “tôi” được biết bao chuyện kỳ lạ: cách bẫy chim trên tuyết, con "tra"  lông da trơn như mỡ biết ăn dưa; bên bờ biển quê hương có nhiều vỏ sò đẹp và lạ: sò “mặt quỷ” và sò “tay Phật". Nhờ Nhuận Thổ mà tôi cảm nhận được vẻ đẹp quê hương, với bao cảnh tượng thần tiên: "Một vầng trăng tròn vàng thắm treo lơ lửng trên nền trời xanh đậm, dưới là một bãi cát bên bờ biển, trồng toàn dưa hấu, bát ngát một màu xanh rờn”.

Quê hương cũ với bao kỷ niệm thời thơ bé. Đó là những ngày mà “thầy tôi hãy còn", cảnh nhà sung túc… năm ấy nhà tôi đến lượt lo giỗ tổ. Giỗ vào tháng giêng. Lễ vật rất nhiều, các đồ tế rất sang, người đến lễ cúng rất đông…,

Quê hương trong ký ức bao giờ cũng cảm động. Lỗ Tấn đã nói về hình ảnh quê hương trong hiện tại và trong quá khứ, lúc ở trên đường trở về, lúc gặp lại bạn cũ, người xưa. Có niềm vui nỗi buồn, 30 năm đã trôi qua, nhưng không bao giờ có thể quên được quê hương và tuổi thơ.

Mẹ đã già. " Tôi” đã trưởng thành, đi làm ăn xa, lưu lạc 20 năm trời nay mới về thăm quê, thăm mẹ. Lâu nay chỉ “gặp mẹ" và hỏi thăm mẹ qua nhũng cánh thư. Con vừa bước vào nhà, mẹ “đã chạy ra đón". Mẹ già “rất mừng rỡ'’ gặp lại con trai sau những năm dài xa cách, thế nhưng "nét mặt vẫn ẩn nỗi buồn thầm kín”. Chắc là mẹ buồn vì thương nhớ người đã khuất, mẹ buồn vì cảnh nhà sa sút, phải bán nhà, theo con trai đến nơi đất khách quê người? Mẹ vẫn hiền hậu, săn sóc “tôi” như ngày "tôi” còn thơ bé: “Mẹ bảo tôi ngồi xuống nghỉ ngơi, uống trà…".

Mẹ nói với con trai chuyện dọn nhà… Mẹ vẫn hiền từ như xưa: “Con hãy nghỉ  ngơi vài hôm, đi thăm các nhà bà con một chút rồi mẹ con mình lên đường ”. Nhắc đến Nhuận Thổ… “Mẹ tôi” động lòng. Gặp 2 bố con Nhuận Thổ, mẹ ân cần vồn vã. Mẹ thở than cho cảnh nhà anh ta, mẹ bàn với "tôi": "Cái gì không cần chở đi thì cho anh ta hết. Cứ để cho tùy ý chọn, lấy cái nào thì lấy!”. Thương con cháu và thương người đó là hình ảnh người mẹ trong Cố hương.

Có một nhà thơ trẻ Việt Nam đã viết: “Quê hương là cầu tre nhỏ – Mẹ về nón lá nghiêng che”. Đọc Cố hương của Lỗ Tấn, nếu ai đó không hiểu được người mẹ thì làm sao cảm nhận được hình ảnh quê hương thân yêu. Bởi lẽ mẹ là quê hương, quê hương là mẹ! Tình yêu quê hương luôn luôn gắn liền thiết tha với người mẹ hiền mà ta yêu quý.

Nhuận Thổ trước hết là tình bạn tuổi thơ. Ba mươi năm trước, “tôi” và Nhuận Thổ đã sống với nhau trong suốt một tháng giêng mà suốt đời “tôi" không thể nào quên được. Hình ảnh hắn thuở lên 10, lần đầu gặp tôi: "Khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng…''. Hắn “bẽn lẽn” với mọi người, nhưng “không bẽn lẽn” với chỉ riêng tôi. Hắn nói lên tỉnh, hắn được trông thấy những điều hắn chưa bao giờ trông thấy cả. Cũng như "tôi” nghe hắn nói chuyện bẫy chim sẻ, chuyện cầm đinh ba đâm con “tra” khi đi canh dưa, chuyện vỏ sò, vỏ ốc, v.v… là những chuyên lí thú, kỳ lạ. Ba mươi năm rồi, “tôi” nhớ đến Nhuận Thổ là nhớ đến gói quà hắn gửi cho tôi: một bọc vỏ sò và mấy thứ lông chim rất đẹp.

Không có tuổi thơ thì không có quê hương. Tình bạn tuổi thơ làm cho tình yêu quê hương mãi mãi tươi thắm. Đúng như Lỗ Tấn đã viết: "Bây giờ mẹ tôi nhắc đến Nhuận Thổ, kí ức tôi bỗng dưng sáng bừng lên trong chốc lát. Tôi cảm thấy tựa hồ tôi đã tìm  được quê hương tôi đẹp ở chỗ nào rồi. Hình ảnh Nhuận Thổ ấu thơ là hình ảnh quê hương, là “vành trăng non trên bầu trời xanh miền thơ ấu”. Nhuận Thổ là một phần rất nhỏ của Cố hương, là tình yêu quê hương.

Hình ảnh Nhuận Thổ trong hiện tại là nỗi đau, nỗi buồn về quê hương. Sau 30 năm xa cách nay găp lại, Nhuận Thổ thay đổi quá nhiều. Nước da “vàng xạm”, những nếp nhăn trên mặt “sâu hóm”. Cặp mắt, mí mắt “viền húp đỏ mọng lên". Đầu đội một cái mũ lông chiên “rách tươm”, mặc một cái áo bông “mỏng dính" giữa lúc trời rét dữ! Người “co ro cúm rúm”, đôi bàn tay “vừa thô kệch, vừa nặng nề nứt nẻ như vỏ cây thông”. Thời gian đã tàn phá một con người về mặt ngoại hình. Sự nghèo khổ và vất vả làm tàn tạ một con người vốn cường tráng và dẻo dai. Gặp lại bạn cũ, Nhuận Thổ “vừa hớn hở vừa thê lương” mấp máy đôi môi nói không ra tiếng, sau mới “cung kính” nói được hai tiếng: “Bẩm ông!”. Lễ giáo và tôn ti trật tự của xã hội phong kiến đã tạo nên giữa đôi bạn “một bức tường khá dày ngăn cách". “Tôi” như bị “điếng người" khi nghe anh ta nói. Nhìn người và nghe Nhuận Thổ nói “tôi” nặng trĩu trong lòng "trông anh ta phảng phất như một pho tượng đá” vô hồn và vô cảm.

Hình ảnh Nhuận Thổ trong hiện tại là hình ảnh một xứ sở, một miền quê xơ xác, tiêu điều, người nông dân bị bần cùng hóa, bị áp bức và bóc lột đến tận xương tủy: "mất mùa, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào…”, “chỗ nào cũng hỏi tiền, chẳng có luật lệ gì cả”.

Thông qua việc tường thuật chuyến về quê lần cuối cùng của “tôi", thông qua những rung cảm của “tôi" trước sự thay đổi, tàn tạ ghê gớm của làng quê, đặc biệt là Nhuận Thổ, tác giả đã lên án tội ác của chế độ phong kiến đối với nông dân, từ đó đặt ra vấn đề quyền sống và hạnh phúc của nhân dân trên con đường đi tới.

Nói đến con người quê hương trong Cố hương không thể nào không nhắc tới hình ảnh chị Hai Dương – “Tây Thi đậu phụ", ngày xưa “phấn son” nổi danh tài sắc bây giờ đã trở thành một “bỉ vỏ" trơ tráo, lúc thì ăn cướp đôi tất tay, lúc thì lấy cái "cẩu khí sát” rồi chạy biến. Cũng không thể không nghĩ tới cháu Hoàng và Thủy Sinh, con trai thứ năm của Nhuận Thổ. Trẻ con xưa nay vẫn hồn nhiên và đáng yêu. Nghĩ đến những con người quê hương, "tôi” mong muốn những em bé quê hương sẽ không còn “phải khốn khổ và tàn nhẫn…”, mong mỏi chúng nó được sống “một cuộc đời mà chúng tôi chưa từng được sống".

Phần cuối truyện Cố hương tác giả viết một câu văn rất lạ mà hay. Sau khi ông nói đến mọi thứ " tượng gỗ” và “sùng bái tượng gỗ", nói đến mong ước “gần gũi" và “xa vời", nói đến “thực" và “hư’' trong “hy vọng", rồi ông hạ bút. Đó là suy ngẫm của “tôi”: “ Cũng giống như những con đường trên mặt đất; kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Có con đường mưu sinh phải xa quê. Có con đường tình nghĩa, không quản xa xôi, cách trở đã về thăm lại quê. Có con đường khổ ải. Có con đường hạnh phúc. Con đường gần, con đường xa, con đường hi vọng đi lên phía trước. Có con đường mòn… Cũng có chuyện phá lối mở đường. Con đường đến với mỗi người là con đường số phận. Con đường của mỗi dân tộc là con đường cách mạng. Phải chăng đó là ý tưởng sâu sắc về hình tượng con đường trong Cố hương.

Xem thêm:  Giải thích câu tục ngữ: Dĩ hòa vi quý

Ca dao có câu:  

Quê hương nghĩa nặng tình sâu,

Bể dâu biến đổi biết đâu là nhà

Đọc Cố hương của Lỗ Tấn, tôi bâng khuâng mãi về tiếng hát ấy từng vang vọng khắp miền Trung thân yêu của quê mẹ.

Phân tích truyện ngắn cố hương – Bài làm 2

Đọc Cố hương, ta bắt gặp một giai điệu buồn, một nỗi buồn xuyên suốt, sâu xa từ hiện thực mang chất trữ tình thâm trầm, thấm thìa. Một câu chuyện dường như không có cốt truyện – chỉ như một bút kí sơ sài nhưng lại có sức đọng ở tầng sâu cảm nghĩ. Chủ đề của tác phẩm cứ toả rộng ra, nâng cao dần lên từ những vỉa quặng nổi, chìm, từ những mạch ngang dọc. Đề tài là cố hương, tất nhiên phải có hình ảnh về chính cố hương, nhưng ấn tượng đọng lại của truyện lại là những nỗi niềm buồn vui về mảnh đất nghìn đời của nhà văn, và sau đó là những day dứt băn khoăn: làm thế nào để thay đổi nó.

Dấu hiệu đầu tiên của sự tàn tạ làm "lòng tôi se lại" là những "thôn xóm tiêu điều, hoang vắng nằm im lìm dưới vòm trời màu vàng úa" mà tác giả (nhân vật tôi) quan sát được ở ven sông. Đó không phải là hình ảnh về quê hương mà người viết mong chờ và hồi hộp biết bao sau hơn hai mươi nãm trở lại. Quê hương trong thực tế khác xa cái quê hương mà "tôi" có trong lòng, có trong kí ức. Cái hôm nay không giống cái hôm qua "Làng cũ tôi đẹp hơn kia!". Vậy phải chăng cảm giác đầu tiên khi trở về làng này là một ngộ nhận, một cảm tính chủ quan vì "lòng mình vốn dã không vui", hoặc sự thê lương cũng không đến nỗi như mình lầm tưởng? Cảnh hiu quạnh khi bước chân đặt đến cổng nhà gieo thêm cái lạnh, cái buồn về sự tan hoang, thưa vắng. Nhà cửa, chòm xóm chắc hai chục năm về trước còn ấm áp đông vui, nhưng giờ thì nhiều gia đình đã dời đi, nay đã thành trống trải. Nhiều nhà khác dã ra đi, gia đình "tôi" cũng sắp sửa ra đi. Nhìn mấy cọng tranh khô phất phơ trên mái ngói nhà mình giống như một ngôi nhà vô chủ từ lâu, vậy nên "khống đổi chủ không được", điều ấy tất nhiên, không khác gì những ngôi nhà trước đó. Đồ đạc trong ngôi nhà của "tôi" gần như bị quên lãng và nào có gì nhiều. Ấy thế mà biết tin, xóm giềng họ tộc đến "hỏi thăm" không ít. Động cơ không hoàn toàn chỉ là trong sáng, thể hiện ở cái không khí xô bồ không phân biệt được người ngay, kẻ gian vì khách khứa thì nhiều, trong dó có kẻ đến dưa chân, người đến lấy đồ đạc, cũng "có kẻ vừa dưa chân vừa lấy đồ đạc". Vì vậy khi con thuyền của gia đình "tôi" rời bến lên đường thì tất cả đồ đạc trong ngôi nhà "hư hỏng, to nhỏ, xấu tốt" đều đã được mang đi "sạch trơn như quét". Nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói không gì khác là mất mùa, thuế má… Một gia đình như gia đình Nhuận Thổ đông con, tuy đứa bé nhất có thể lao đọng cũng đã "giúp được việc" rồi vẫn chẳng đủ ăn vì tai hoạ, vì sự sách nhiễu của bộ máy tham ô "chỗ nào cũng hỏi tiền, chẳng có luật lệ gì cả". Có lẽ sự thay đổi nhiều nhất, ấy là sự biến dạng ở chính con người. Một Nhuận Thổ hôm nay hoàn toàn không giống với Nhuận Thổ năm xưa. Còn đâu khuôn mặt ngày nào tròn trĩnh, "nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng". Thay cho gương mặt rạng rỡ, hăm hở vào đời ngày đó là một cái gì thật tàn héo xác xơ "Anh cao gấp hai trước, khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật trước kia nay đổi thành vàng sạm", chiếc mũ trên đầu rách bươm, chiếc áo bông mặc mùa lạnh trên người thì "mỏng dính". Đặc biệt là hai bàn tay trước kia hồng hào, lanh lẹn, mập mạp nay chỉ còn hai bàn tay "vừa thô kệch vừa nặng nề, nứt nẻ như vỏ cây thông". Nếu chỉ là dấu vết của tuổi già, một cái gì vô cảm thì tại sao khuôn mặt Nhuận Thổ khi gặp người mà chính anh mong nhớ, đợi chờ lại "vừa hớn hở vừa thê lương". Cái gì đó nhấn con người đói nghèo nhưng lương thiện ấy xuống tận bùn đen, đổ gương mặt vui tươi ngày trước trở thành mụ mẫm "đần độn" đi nếu không phải là do bao nhiêu tệ nạn: con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào đày đoạ. Nói đến tệ nạn và các thế lực áp bức này thông qua một nạn nhân của nó, sức tố cáo của ngòi bút hiện thực mạnh mẽ, dữ dội biết chừng nào? Nhân vật thím Hai Dương, "nàng Tây Thi đậu phụ" có lẽ là đại diện cho số đông có những biểu hiện lưu manh hoá. Ra vẻ tức giận "tôi" giàu mà keo kiệt vì không chịu cho không những thứ "đồ gỗ hư hỏng", mụ quay gót thong thả đi ra rồi "tiện tay giật luôn đôi bít tất tay của mẹ tôi giắt vào lưng quần, cút thẳng". Hoặc một lần khác mụ "đứng cạnh đống tro, moi ra hơn mười chiếc, cả bát lẫn đĩa" rồi đổ cho Nhuận Thổ có ý gian lén lút vùi vào. Đứa trẻ nhỏ nhất bây giờ, đứa con thứ năm của Nhuận Thổ cũng không giống bố nó hai chục năm về trước, hoặc chỉ như một phiên bản đáng buồn vì gương mặt thì nó giống hệt anh "chỉ có điều vàng vọt, gày còm hơn một tí, và cổ không đeo vòng bạc mà thôi". Rõ ràng bằng óc quan sát có sự đối chiếu làm nổi bật sự đổi thay, nhất là bằng phương thức miêu tả nói ít mà gợi nhiều, phác hoạ cái bên ngoài mà nói được bao điều sâu sắc bên trong hoặc điển hình hoá một chân dung, một tính cách nhân vật.

Khi quan sát, miêu tả cảnh và người nơi chôn rau cắt rốn, nhà văn vốn không có cái nhìn dửng dưng của người ngoài cuộc. Vì cảnh ấy, người ấy đối với nhà văn rất đỗi thân yêu, gần gũi. Có thể nào nhà văn "vô cảm", dửng dưng? Nhưng dù sao, những chi tiết phác hoạ trên đây vẫn là ngoại canh, đối với người viết, nó vẫn chỉ là khách thể, cái bên ngoài. Còn nỗi buồn vô hạn của nhà văn, nó lặn vào chiều sâu, vào tầng hai của hiện thực nhìn thấy. Ở đây, các phương tiện biểu cảm được tận lực phát huy và tỏ ra vô cùng hiệu quả. Trước hết, ấy là cảm nhận về sự tù túng, quẩn quanh, ngưng đọng của một làng quê nói riêng, cũng là một đất nước Trung Quốc nói chung. Một gia đình như gia đình Nhuận Thổ tính đến ba đời: từ cha Nhuận Thổ đến Thuý Sinh (con Nhuận Thổ) trước sao sau vậy, không "mọc mũi sủi tăm" lên được dù thời gian có đến một thế kỉ trôi qua. Ông là người "ở tháng", cha là người được chủ gọi thêm, để coi giữ đồ thờ (trong những ngày giỗ tết), còn đứa con biết trôi dạt về đâu khi điểm tựa là gia đình, một gia đình đồng con làm không đủ sống. Nếu theo quan điểm "con hơn cha là nhà có phúc" thì gia đình Nhuận Thổ đúng là "vô phúc". Một Thuỷ Sinh bây giờ đâu có bằng cha nó của hai mươi năm vể trước? Một thím Hai Dương cũng khác trước nhiều. Cái lương thiện, hiền hậu của cô gái ngồi bán đậu phụ năm xưa đã thay thế bằng những gì không được đáng yêu như thế: tự cao, tự đại, tâng bốc lấy lòng, tham lam tinh quái, cái dáng điệu com-pa thay bằng tên gọi "mụ com-pa"… Cùng với sự trói buộc vô hình của xã hội, những nạn nhân đáng thương này còn tự trói mình bằng một sợi dây truyền kiếp. Ấy là sự mặc cảm, những ngộ nhận về thân phận tôi đòi. Điều này làm cho nhà văn bất ngờ và đau đớn nhất. Vì đó là căn bệnh nan y về mặt tinh thần của những người áp bức do chính họ tạo ra. Nó phổ biến lan tràn trở thành một thứ "quốc dân tính" kìm hãm con người ngu muội trong một không gian khép kín tối tăm. Tình cảm giữa Nhuận Thổ với nhân vật "tôi" thật thân thiết, chân thành, cởi mở hồi còn là hai đứa trẻ ngày nào. Với nhân vật "tôi" sau hai chục năm dường như nó vẫn còn trọn vẹn, còn tươi nguyên như thế. Vì kỉ niệm giữa chúng gần giống như một thiên đường trên mặt đất. Nhuận Thổ khi ấy "lên tỉnh" thì lần đầu tiên mới trông thấy "những điều hắn chưa bao giờ trông thấy cả". Còn về vùng biển quê Nhuận Thổ, nhân vật "tôi" tung tăng bay nhảy như một con chim sẻ sổ lồng. Mùa tuyết xuống thì đi bẫy chim, mùa dưa hấu thì đi canh lợn rừng, con tra, con nhím. Ra biển thì đi nhặt vỏ sò màu đỏ, màu xanh… cảm giác của nhân vật "tói", cũng giống Nhuận Thổ là "chưa hể biết trên đời này lại có những chuyện mới lạ như vậy". Với nhân vật "tôi", những phát hiện mới này không chỉ là ngày hội, niềm vui, nó còn là sự kiêu hãnh so với bạn bè trên tỉnh vì "chúng nó cũng như tôi, chỉ nhìn một mảnh trời vuông trên bốn bức tường cao bao bọc lấy cái sân mà thôi!". Trong thế giới tuổi thơ hồn nhiên ấy, chúng đã từng là bạn bè, anh em dù hai gia đình không cùng một hoàn cảnh sống. Không có gì để phân chia kẻ nông thôn người thành phố. Những giọt nước mắt khi phải chia tay đéu rất chân thành chia đéu cho hai đứa trẻ ngây thơ. Nó là vô giá. Với nhân vật "tôi", đó là vùng sáng của quê hương, hồn vía của quê hương. Hai chục năm xa cách, tuổi thơ đã đi qua nhưng có cái không thể đi qua, kí ức của "tôi" giống như "bừng sárig lên" khi bà mẹ nhấc đến "có anh Nhuận Thổ đến chơi" sau bao chuyện vật đổi sao dời xa lơ xa lắc. Còn Nhuận Thổ khi gặp lại "tôi" tại sao nét mặt "vừa hớn hớ vừa thê lương"? Hớn hở vì vui mừng, đó là những tình cảm hồn nhiên chưa mất. "Tôi" đi xa, anh thường đến hỏi thăm. Nhận tin "tôi" trớ về, anh vội đến gặp mặt, lại còn cho quà dù quà quê chỉ là một gói đỗ xanh phơi kĩ. Tình cảm như thế là chân thật. Nhưng cái hiển nhiên thì đã không còn. Nhuận Thổ đã biết tiết chế sự hồ hởi thể hiện ở những hành vi ứng xử rất chừng mực. Anh đã tạo ra một thứ hàng rào ngăn cách. Thay cho cách nói suồng sã anh anh em em ngày nào là một thái độ khác: một dáng điệu "cung kính", một cách chào "rành mạch" dường như anh đã tự dặn mình, đã luyện tập kĩ để không một mảy may vụng về, lúng túng: "Bẩm ông". Cái cách thưa gửi lạ tai ấy thật bất ngờ vì lần đầu "tôi" nghe thấy trong quan hộ bạn bè, tri âm thân thiết. Nó ráo hoảnh trong sự ngăn cách phân chia. "Tôi như điếng người đi" chính là vì vậy. Sự đau đớn của "tôi" không nói được nên lời vì đó là nỗi đau quá lớn ngoài sức tưởng tượng của người kể chuyện. Hơn thế nữa, một cái gì còn lớn hơn, giống như một định mệnh: người đi ở vẫn là đi ở, người hèn hạ vẫn là người hèn hạ. Thế giới phẳng lặng này không dành chỗ cho sự thay bậc đổi ngôi. Trái tự nhiên, luật lộ vô hình vẫn ngang nhiên tồn tại, tồn tại trong ý thức con người, kổ cả con người bị áp bức khổ đau. Quan hệ thân mật đã trở nên xa cách, "tôi" không nói được gì hơn vì cái không khí ngột ngạt bao trùm. Cuộc trò chuyện giữa khách và chủ tớ nên rời rạc "toàn là những chuyện chẳng quan trọng gì", bởi nó vô hồn nhạt nhẽo. Kể lể về nỗi buồn của bản thân Nhuận Thổ mà những nếp nhăn trên mặt anh không hề động đậy như anh là người kể còn nội dung câu chuyện là của một ai đó mà thôi. Gương mặt ấy "phảng phất như một pho tượng đá" thật phẳng lặng đến thản nhicn nhằm vĩnh viễn hoá những đau thương mà mình nếm trải nhọc lòng, không còn biết cái buồn vui hồn nhiên là gì nữa.

Xem thêm:  Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều- Văn lớp 9

Như thế là con đường phía sau đã rõ: một con đường rất hẹp mà cũng rất dài vắt ngang bao nhiêu thế kỉ. Vấn đề đặt ra là có nên tiếp tục giẫm chân lên những bước chân của người khác hay thay đổi nó đi, mở ra một con đường mới. Hình ảnh về con đường cũ như tự nó hình thành: con đường tâm tưởng ấy song song với con đường có thực mà quy trình của nó dễ thấy biết bao: từ thành phố trở vé rồi từ dó lại ra đi, trở về trong đêm và ra đi trong buổi hoàng hôn. Hai khoảnh khắc thời gian đánh dấu một con đường ảm đạm. Phải chăng là rời bỏ cố hương cũng là chia tay với quá khứ, một quá khứ đáng buồn? Câu văn bỗng trở nên đa nghĩa. Đó là "những núi xanh hai bên bờ sông đen sẫm lại, nối tiếp chạy về phía sau lái" có ý nghĩa về cuộc biệt li, biệt li mà "không chút lưu luyến" cảm thương. Trong bối cảnh đó, một cảm nhận mới, không phải không dính líu đến cuộc chia tay ập đến "tôi chỉ cảm thấy chung quanh tôi là bốn bức tường vô hình, nhưng rất cao, làm cho tôi vô cùng lẻ loi, ngột ngạt". Tuy vậy, tuy quá khứ thì có thể quên đi nhưng câu hỏi của thằng bé Hoàng còn đó "nhưng mà thằng Thuý Sinh nó hẹn cháu đến nhà chơi cơ mà!". Quan hệ giữa "tôi" với Nhuận Thổ cứ cho là đã thuộc về quá khứ, còn tình bạn của hai đứa trẻ, nghĩa là một thế hệ tiếp nối thì sao? "tôi mong ước chúng nó sẽ không giống chúng tôi, không bao giờ phải cách bức nhau cả…". Trong tương lai số phận của chúng sẽ không thể nào còn giống chúng tôi, hoặc vất vả chạy vạy như tôi, hoặc "khốn khổ mà đần độn" như Nhuận Thổ, cũng không giống những người dưng "vì khốn khổ mà tàn nhẫn như bao nhiêu người khác". Cuộc sống của chúng tôi, thời chúng tôi, thời của quá khứ không xứng đáng với con người. Nhà văn nghĩ đến một cuộc song khác, một cuộc đời mới mà "chúng tôi chưa từng được sống", nghĩa là một xã hội phải thay đổi hẳn đi trong no đủ và nhất là một quan hệ mới giữa con người.

Nhưng hi vọng của người ta có ba, bảy đường. Ở đây lại xuất hiện một thứ ngã ba, có hi vọng hướng vé phía sau, có hi vọng hướng về phía trước. Trong Nhuận Thổ có cái ước mơ thứ nhất. Nó tự nhiên như một quán tính, một thói quen khi anh xin gia đình "tôi" chiếc lư hương và đôi nến. Dù cuộc sống có khốn khổ thế nào anh không bỏ được thói quen là "sùng bái tượng gỗ" của anh, tự nguyện trở lại cái quá khứ đáng hàng trăm lần nguyền rủa. Nhưng ngay ở hi vọng thứ hai, hi vọng một xã hội trong đó con người được giải phóng, được tự do cũng có thể không phải không hão huyền, và xét cho cùng, nó cũng là một loại "tượng gỗ" vô hồn, vô tri kiểu mới "thứ tượng gỗ tự tay tôi chế tạo ra". Trở về với quá khứ thì quá giản đơn vì gần gũi, còn đánh cược cuộc đời mình về phía trước thì dường như lại quá "xa vời" gần với sự hư vô như nhìn vào ảo ảnh. Hình ảnh con đường và thái độ chọn đường đến phần kết câu chuyện mới thực sự được xác định. Biến mơ ước thành quyết tâm khi nhà văn tự nêu lên một định nghĩa về tương lai, cũng là về con đường mới: "kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi". Đặt ý nghĩ trên đây vào những năm hai mươi của thế kỉ trước, ta mới nhận ra một dự cảm tiên tri, một táo bạo và dũng cảm tìm đường của Lỗ Tấn. Phương thức lập luận với nhiều thao tác tư duy như: so sánh, loại trừ, phủ định để tìm ra chân lí phù hợp với giọng văn độc thoại ở đây. Giá trị nhân văn của Cố hương vì vậy không chỉ ở sự cảm thông (với nỗi khổ của kiếp người – như kiếp người Nhuận Thổ) mà còn là, và chính xác là xoá bỏ. Phê phán một xã hội đang tàn hay khát khao thiết kế một mô hình mới, một xã hội tốt đẹp cho con người, ngòi bút "trong nóng ngoài lạnh" của nhà văn có một sức lan toả sâu xa.

Phân tích truyện ngắn cố hương – Bài làm 3

Cố hương là một truyện ngắn trữ tình. Nhân vật trungtâm trong thiên truyện ngắn là Nhuận Thổ. Nhuận Thổ là một nông dân.

Ðề tài của Cố hương là đề tài nông dân. Nhân vật Nhuận Thổ được nhà văn Lỗ Tấn miêu tả trong hai thời điểm quá khứ và hiện tại. Khi xây dựng nhân vật Nhuận Thổ, tác giả đã dùng lối đồng hiện về thời gian. Trình tự thời gian không tuân từ quá khứ đến hiện tại, tương lai mà từ hiện tại đến quá khứ, từ quá khứ trở về hiện tại, từ hiện tại trở về quá khứ rồi đến tương lai. Câu chuyện bắt đầu từ thì hiện tại. Nhà văn kể lạichuyến về thăm quê hương lần cuối cùng sau hai mươi năm xa cách. Ðó là thì hiện tại. Sau đó, nhân vật tôi nghe người mẹ nhắc đến Nhuận Thổ thì hình ảnh Nhuận Thổ ba mươi năm về trước đã hiện lên theo dòng hoài niệm theo mạch hồi tưởng. Ðó là thì quá khứ. Khoảng cách thời gian mà nhân vật tôi xa Nhuận Thổ là ba mươi năm. Thời gian ấy so với lịch sử nhân loại hay một quốc gia thì ngắn ngủi, nhưng so với cuộc đời của một con người thì rất dài. Thủ pháp đồng hiện về thời gian đã rút ngắn khoảng cách thời gian để làm nổi bật SỰ TÀN TẠ VỀ THỂ XÁC VÀ SỰ THA HÓA VỀ TINH THẦN MỘT CÁCH NHANH CHÓNG CỦA NHUẬN THỔ.

Trong truyện ngắn này, tác giả đã nêu lên vấn đề: QUÁ TRÌNH THA HÓA CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRUNG QUỐC DƯỚI CHẾ ÐỘ XÃ HỘI CŨ.

Khi xây dựng nhân vật Nhuận Thổ, nhà văn đã kết hợp miêu tả ngoại hình với khắc họa nội tâm. Lỗ Tấn đã đặt nhân vật Nhuận Thổ trong mối quan hệ với hoàn cảnh. Hoàn cảnh đó là nông thôn TrungQuốc dưới chế độ xã hội thuộc địa. Yếu tố hoàn cảnh được tác giả phác họa ngay ở đầu truyện: nhìn qua khe hở mui thuyền thấy thấp thoáng mấy thôn xóm tiêu điều hoang vắng nằm im lìm dưới bầu trời màu vàng úa. Cảnh làng quê nông thôn Trung Quốc được miêu tả rất tàn tạ, tiêu điều, xơ xác. Màu vàng úa là màu của sự tàn lụi, in dấu của sự thê lương ảm đạm. Trong hoàn cảnh nông thôn Trung Quốc tiêu điều xơ xác, có bao nhiêu người nông dân như Nhuận Thổ đã rơi vào tình trạng bị tha hóa. Việc đặt nhân vật Nhuận Thổ trong hoàn cảnh để miêu tả chứng tỏ Lỗ Tấn đã sáng tác truyện ngắn này bằng phương pháp của chủ nghĩa hiện thực ( tha hóa: hóa khác tha hóa là sự đánh rơi mất bản tính tốt vốn có của mình ).

Xem thêm:  Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em - Con Mèo

Nhân vật Nhuận Thổ trong thì quá khứ ( ba mươi năm về trước ) là một chú bế nông dân khỏe mạnh, đẹp về thể chất: ngây thơ, hồn nhiên trong trắng và thủy chung về tinh thần. Nhà văn đã miêu tả Nhuận Thổ hiện lên vừa đẹp vừa hùng giữa khung cảnh thơ mộng của quê hương bằng một đọan văn rất giàu tính tạo hình: Một vầng trăng tròn vàng thắm treo lơ lửng trên nền trời xanh đậm, dưới là một bãi cát bên cạnh bờ biển trồng toàn dưa hấu, bát ngát một màu xanh rờn. Giữa ruộng dưa, một đứa bé trạc 11, 12 tuổi, cổ đeo vòng bạc, tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba đang cố sức đuổi theo một con tra. Con vật bỗng quay lại, luồn qua háng đứa bé, chạy mất ( tra là tên tác giả bịa ra trên cở sở con heo rừng ), về ngoại hình của Nhuận Thổ ba mươi năm về trước, Nhuận Thổ là một chú bé rất khỏe mạnh và rất đẹp: nước da bánh mật, cổ đeo vòng bạc, đầu đội một chiếc mũ lông chiên bé tí. Về nội tâm, ba mươi năm về trước, Nhuận Thổ là một chú bé nông dân rất hồn nhiên chân thực. Mặc dù có sự cách bậc về tầng lớp giai cấp ( gia đình  Nhuận Thổ thuộc tầng lớp dưới, gia đình nhân vật tôi thuộc tầng lớp trên ), nhưng khi Nhuận Thổ gặp nhân vật tôi thì hoàn toàn không hề có sự cách bậc mà sống chan hòa, cảm hòa với nhau. Nhuận Thổ gọi nhân vật tôi là anh và tự xưng là em rất thân mật, chân tình. Nhuận Thổ khoe những đặc sản của mình: có nhiều vỏ sò và lông chim rất đẹp, khoe trò bẫy chim và những đêm đi canh ruộng dưa dưới ánh trăng. Ngôn ngữ của chú bé Nhuận Thổ thể hiện đầy đủ sự ngây thơ trong trắng hồn nhiên của chú. Lúc Nhuận Thổ xa nhân vật tôi thì Nhuận Thổ khóc tỏ ra lưu luyến, bịn rịn gắn bó với nhân vật tôi. Sau khi xa nhân vật tôi, Nhuận Thổ không quên gửi cho nhân vật tôi một bịch vỏ sò và mấy thứ lông chim rất đẹp. Chi tiết này thể hiện tấm lòng thủy chung của Nhuận Thổ đối với bạn.

Ðó là Nhuận Thổ ba mươi năm về trước.

Sau ba mươi năm nhân vật Nhuận Thổ đã khác trước. Nhà văn tiếp tục miêu tả ngoại hình và nội tâm của nhân vật này. Về ngoại hình, trong thì hiện tại Nhuận Thổ cao gấp hai trước, nước da vàng xạm, trên khuôn mặt đã có nhiều nếp nhăn sâu hoắm, dáng co ro cúm núm, đầu đội một chiếc mũ lông chim rách bươm, da bàn tay nứt nẻ như vỏ cây thông. Ngoại hình của Nhuận Thổ trong thì hiện tại trông rất tiều tụy và tàn tạ.

Về nội tâm trong thì hiện tại, khi gặp lại nhân vật tôi, Nhuận Thổ đã chào cung kính: bẩm ông. Tiếng chào này thể hiện cách bậc. Tiếng chào ấy đã đẩy hai người ra hai bờ của đại dương xa thẳm. Nhuận Thổ nói bằng giọng than thở, siếc lóc. Nhân vật than thở, siếc lóc về cảnh nghèo của mình. Cảnh nghèo của Nhuận Thổ là làm ăn không đủ ăn, sống rất cực khổ. Nhà văn đã để cho nhân vật Nhuận Thổ lý giải về nguyên nhân dẫn đến hòan cảnh nghèo khổ là: con đông, mùa mất, thuế khóa, lính tráng, trộm cắp. Ðể cho nhân vật lý giải như thê ú, Lỗ Tấn đã thể hiện một quan điểm tiến bộ. Nhà văn không xem sự nghèo khổ của Nhuận Thổ là do số phận, định mệnh mà là do chế độ xã hội. Trong hai nguyên nhân tự nhiên và xã hội, Lỗ Tấn đã nghiêng về nguyên nhân xã hội. Nhuận Thổ xin nhân vật tôi đủ thư ï. Nếu như 30 năm về trước, Nhuận Thổ là một chú bé vô tư thì giờ đây Nhuận thổ là một người nông dân rất vụ lợi, rất thực dụng và nhân vật Nhuận Thổ theo lời của thím Hai Dương thì Nhuận Thổ đã lấy cắp của gia đình nhân vật tôi dấu vào đống tro để chờ ngày đem về nhà mình. Nhuận Thổ đã trở thành một kẻ gian dối.

Trong thì hiện tại, Nhuận Thổ là một nông dân tàn tạ về thể xác, tha hóa về tinh thần. Lỗ Tấn đã miêu tả sự tha hóa của nhân vật Nhuận Thổ trong một quá trình và nhà văn đã lý giải một cách đúng đắn về nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa của Nhuận Thổ. Ðó là một nguyên nhân xã hội. bên cạnh nhân vật Nhuận Thổ, tác giả còn xây dựng nhân vật thím Hai Dương – nàng Tây Thi đậu phụ – con người có dáng hình như một chiếc compa trong bộ đồ vẽ. Ngọai hình của nhân vật này cũng được tác giả phác họa: cao gầy, khô cứng. Nội tâm của nhân vật thiam Hai Dương được tác giả miêu tả qua ngôn ngữ và hành động của chính nhân vật này. Ngôn ngữ và hành động của nhân vạt nảythê hiện sự tham lam vụ lợi. Nhân vật phụ thím Hai Dương đã góp phần làm nổi bật thêm nhân vật trung tâm là Nhuận Thổ. thông qua hình tượng nhân vật phụ này, nhà văn đã khái quát được rằng: dưới chế độ xã hội cũ ở Trung Quốc thì sự tha hóa của Nhuận Thổ không phải là cá biệt mà là phổ biến. Trong truyện Cố hương Lỗ Tấn còn sử dùng thủ pháp nghệ thuật so sánh đối lập song song để làm tăng thêm giá trị nhân đạo cho tác phẩm. Tình bạn của Nhuận Thổ với nhân vật tôi trong thì quá khứ đối lập với tình bạn của nhân vật tôi Nhuận Thổ trong thì hiện tại ( quá khứ thì tình bạn gắn bó thủy chung, hiện tại cách bậc, xa vời ). Tình bạn giữa nhân vật Nhuận Thổ với nhân vật tôi trong thì hiện tại đối lập với tình bạn của nhân vật bé Hoằng và nhân vật Thủy Sinh trong thì hiện tại. Thủ pháp này một mặt tiếp tục làm rỏ thêm sự tha hóa của Nhuận Thổ, nhưng mặt khác quan trọng hơn là đề cao tình bạn của tuổi thơ. Tình bạn của nhân vật Nhuận Thổ và nhân vật tôi trong thì quá khứ ba mươi năm về trước ) là tình bạn của tuổi thơ và tình bạn của bé Hoằng và Thủy Sinh trong thì hiện tại cũng là tình bạn của tuổi thơ. Hai tình bạn này giống nhau ở chỗ đều là tình bạn của tuổi thơ, đều có sự gắn bó, thủy chung trong trắng. Ðề cao tình bạn của tuổi thơ là tình bạn của lứa tuổi ngây thơ, hồn nhiên trong trắng và chưa hề dính chút bụi đời. Tình bạn của tuổi thơ cũng là tình bạn rất đẹp. Ðề cao tình bạn của tuổi thơ là rất nhân đạo.

Ở cuối truyện, nhà văn đã tạo dựng hình ảnh tượng trưng. Ðó là hình ảnh con đường đi đến tương lai, hiện thân của niềm tin, niềm hi vọng của tác giả: Tôi nghĩ bụng: đã gọi là hy vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. cũng gjiống như những con đường trên mặt đất ; kỳ thực,trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi. Hình ảnh tượng trưng này cũng đã bộc lộ khát vọng về sự đổi thay của tác giả nên nó có giá trị. Khát vọng này chính là nhu cầu trần tục của con người trần tục của Lỗ Tấn.

Việc tác giả đề cao tình bạn của tuổi thơ cũng như thể hiện niềm khát vọng về sự đổi thay trong lai là rất nhân đạo. Song tinh thần nhân đạo của Lỗ Tấn thời mà ông viết Cố hương đã chịu sự chi phối của yhuyết tiến hóa, nên có hạn chế. Ông đề cao quan điểm tình bạn tuổi thơ theo quan điểm sinh mệnh của thế hệ trẻ sẽ hơn sinh mệnh của thế hệ già. Hình ảnh tượng trưng con đường đi tới tương lai ở cuối truyện là sự thể hiện của quan điểm: ngày mai sẽ hơn ngày hôm nay. Những quan điểm này đều mang đậm nét màu sắc của thuyết tiến hóa. Thuyết tiến hóa lý giải qui luật tiến hóa mang tính đặc thù của tự nhiên. Qui luật của xã hội không thể đồng nhất với quy luật của tự nhiên.Trong xã hội có qui luật riêng của xã hội. Ngày mai hơn ngày hôm nay trong xã hội không thể theo quy luật tự nhiên mà muốn như thế thì phải có đông lực đấu tranh bằng nhiều hình thức. Lỗ Tấn tin vào ngày mai có phần mơ hồ.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Phân tích truyện ngắn cố hương hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Phân tích truyện ngắn cố hương thật hay và đạt được kết quả cao.

Post Comment