Văn mẫu lớp 9

Phân tích truyện ngắn cô bé bán diêm

Phân tích truyện ngắn cô bé bán diêm

Tổng hợp những bài làm văn Phân tích truyện ngắn cô bé bán diêm hay nhất của các bạn học sinh giỏi văn đạt điểm cao. Mời các bạn đọc tham khảo và dựa vào đây viết cho mình một bài văn Phân tích truyện ngắn cô bé bán diêm thật hay. Chúc các bạn luôn luôn học tập tốt.

Phân tích truyện ngắn cô bé bán diêm – Bài làm 1

Tuổi trẻ chúng ta, ai đã từng cắp sách đến trường hẳn đều biết đến H.C. An-đéc-xen, người viết truyện kể cho trẻ em nổi tiếng thế giới. Ông là nhà văn Đan Mạch, sống và viết trong thế kỉ XIX (1805 – 1875). Bạn đọc khắp năm châu đã rất quen thuộc với các tác phẩm của ông như Nàng tiên cá, Bầy chim thiên nga, Bộ quần áo mới của hoàng đế, Cô bé bán diêm,… Truyện của An-đệc-xen nhẹ nhàng, trong trẻo, toát lèn lòng thương yêu con người – nhất là những neười nghèo khổ và niềm tin, khát vọng những điểu tốt đẹp nhất trên thế gian này sẽ thuộc về con người. Truyện Cô bé bán diêm đưa người đọc chúng ta vào khung cảnh một đêm giao thừa giá rét ở đất nước Đan Mạch, Bắc Âu cách đây hơn một trăm năm. Em bé gái ấy nhà nghèo, mồ côi mẹ, bà vừa mất, bố sai đi bán diêm kiếm- từng đồng xu nhỏ độ thân.- Suốt cả ntỉày cuối năm, cho đến đêm giạo thừa, em chẳng bán được bao diêm nào. Vừa đói, vừa rét, em bé thu mình lại trong xó tường của một toà nhà lớn để… ước ao, mơ tưởng. Những khát vọng tuổi thơ ấy cứ sáng lên, sáng lên đẹp đẽ, kì ảo làm sao và đau khổ làm sao!. Thể hiện điều này, nhà văn đã xây dựng những hình ảnh đối lập, thực tế và mộng tưởng, mộng tưởng và thực tế cứ đan cài vào nhau, tranh chấp với nhau, lôi cuốn người đọc…

Phần mở đầu tác phẩm (phần này không có trong đoạn trích của sách Ngữ văn 8) kể rõ cảnh ngộ éo le của cô bé bán diêm với những chi tiết đối lập rõ nét: "Trời đông giá rét, tuyết rơi", nhưng "cô bé đầu trần, chân đất" bước đi. Ngoài đường lạnh buốt và tối đen, nhưng "cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn". Cô bé "bụng đói", cả ngày chưa ãn uống gì, mà "trong phố sực nức mùi ngỗng quay"… Những chi tiết tương phản đó khiến người đọc thấy tình cảnh em bé thật tội nghiệp, đáng thương. Cái rét, cái đói, công việc kiếm sống giày vò, đày đoạ em. Em đã rét, đã khổ, có lẽ càng rét khổ hơn khi thấy mọi nhà rực ánh đèn. Em đã đói, có lẽ càng đói hơn khi ngửi thấy mùi ngỗng quay sực nức… Đi vào đoạn trích trong sách giáo khoa, từ câu mở đầu "Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn…" đến câu "… đôi bàn tay em đã cứng đờ ra", người đọc thấy ngay tình cảnh khốn khó của cô bé. Nãm xưa, "khi bà nội hiển hậu của em còn sống", "em được đón giao thừa trong căn nhà xinh xắn… có dây trường xuân bao quanh, em đã sống những ngày đầm ấm". Giờ đây, giữa đêm giao thừa này, "em ngồi nép trong một góc tường, thu đôi chân vào người, mỗi lúc càng thấy rét hơn"… Đây cũng là hai hình ảnh tương phản, đối lập giữa hiện tại và quá khứ. Trước kia, cô bé được sống hạnh phúc bao nhiêu thì bây-giờ bơ vơ, côi cút bấy nhiêu. Cả nhà, chỉ có bà là người thương yếu em nhất, là chỏ dựa tinh thần vững chắc nhất giờ không còn nữa. Trước kia, đêm giao thừa, em được vui chơi quây quần trong nhà, giờ em phải bơ vơ ngoài phố kiếm sống. Mường tượng hình ảnh cô bé bán diếm côi cút, dói khổ giữa đêm giao thừa, ta chợt thấy nhớ mấy câu thơ trong bài Mồ côi của Tố Hữu: Con chim non rũ cánh Đi tìm tổ hơ vơ Quanh nẻo rừng hiu quạnh Lướt mướt dưới dòng mưa.. Cảnh ngộ em bé Đan Mạch trong đêm giao thừa vẫn phải đi kiếm sống tuy có khác cảnh ngộ em bé Việt Nam mồ côi tìm mẹ, nhưng đọc văn, nhớ lại thơ, hình dung thân phận hai kiếp người thơ dại ấy, ai mà chẳng não lòng, rớm lệ! Phần thứ hai của câu chuyện, từ câu "Chà! Giá quẹt một que diêm…" đến "Họ đã về chầu Thượng đế", kể về những lần cô bé quẹt diêm đốt lửa, đốt sáng lên những ước mơ, khát vọng. Ở phần này, những hình ảnh đối lập, tương phản càng lúc càng gay gắt, thực tế và mộng tưởng, cuộc đời và ảo ảnh cứ sóng đôi hiển hiện, đan cài, tranh chấp nhau, nâng dần lên, bay cao lên… Cô bé quẹt que diêm thứ nhất: diêm sáng rực như than hồng. Em tưởng chừng như "đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng… Lửa cháy nom.đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng". Nhưng, em vừa duỗi chân ra thì "lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất". Niềm vui của em cũng vụt tắt. Em bần thần nghĩ đến nhiệm vụ bán diêm và lời cha quở mắng. Cô bé quẹt que diêm thứ hai: "Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màu. Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay… Ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa và mang cả dao ăn, phuốc-sét cắm trên lưng, tiến về phía em bé". Nhưng diêm vụt tắt. Trước mặt em chỉ còn là những bức tường dày đặc và lạnh lẽo. Phố xá vắng teo. Mấy người khách qua đường vội vã hoàn toàn lãnh đạm với em. Em bé cố tìm lại ngọn lửa để tiêp tục sưởi ấm, xua đi bóng tối và giá lạnh. Em quẹt que diêm thứ ba: Một cây thông Nô-en hiện lên, "Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây thông mà em đã được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực…". Nhưng diêm vụt tắt. Tất cả các ngọn nến bay lên, bay lên mãi, rồi biến thành những ngôi sao trên trời. Từ lần quẹt diêm thứ nhất, đến lần thứ hai, thực tế đã xoá nhoà đi mộng tưởng của em bé. Nhưng đến ngọn nến thứ ba thì dường như mộng tướng đã vươn dậy, cố vượt lên trên thực tế. Vì thế, sau khi diêm tắt, em bé thấy tất cả các ngọn nến bay lên, biến thành những ngôi sao trên trời. Dường như em bé dans ngẩng đầu nhìn sao trời, rồi nhớ tới người bà thân yêu. Em liền quẹt luôn que diêm thứ tư thì… bà em hiện lên. Em sung sướng reo lên, trò chuyện với bà, xin bà cho đi theo…"cho cháu về với bà". Có thể đến phút này, cô bé tội nghiệp ấy đã sức tàn, lực kiệt dan" gục xuống cạnh bức tường giá buốt. Em lịm dần, lịm dần và trôi vào trong một giấc mơ đẹp. Diêm vụt tắt. Anh sáng, hơi ấm vụt tắt, "ảo ảnh" biến mất. Nhưng em bé bừng tỉnh, như ngọn lửa trước khi tắt hẳn đã sáng loé lên. Thế là cô bé quên hết mọi thực tế phũ phàng, quên nhiệm vụ bán diêm, quên sự quở mắng của cha. Những que diêm thứ năm, thứ sáu, thứ bảy… và tất cả những que diêm trong bao được đốt sáng lên, nối ánh sáng, chiếu sáng như ban ngày. Em bé thực sự được sống trong một giấc mơ kì diệu. Em thấy "bà em to lớn và đẹp lão… Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe doạ họ nữa…". Rõ ràng, mỗi lần quẹt diêm, đốt lửa là một lần cô bé đói khổ kia ước mơ, khát vọng. Những ước mơ của em thật giản dị và ngây thơ, gắn liền với tuổi thơ trong sáng và nhân hậu của em. Em khao khát có cuộc sống vật chất đầy đủ, được hưởng những thú vui tinh thần, được sống trong hạnh phúc gia đình ấm êm, được bà – người thân yêu nhất – châm sóc, chiều chuộng. Đó cũng là những ước mơ khát vọng chính đáng, muôn đời ẹủa các em bé nói riêng và của con người nói chung. Thể hiện khát vọng, ước mơ của một em bé cụ thê trong câu chuyện này, nhà văn Đan Mạch ấy hẳn đã cháy lòng mong muốn các em bé và mọi người, trước hết là những kiếp người đói khổ, vượt qua được những thực tế phũ phàng để vươn tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có miếng ăn no đủ, có áo ấm, được yêu thương, châm sóc. Mỗi lần em bé quẹt diêm đốt lửa dường như cũng là một lần ngọn lửa tin yêu, khát vọng trong trái tim nhà văn cháy lên, sáng lên, động viên con người, giục giã con người… Nhưng thực tế phũ phàng – thực tế cuộc sống nước Đan Mạch những năm giữa thế kỉ XIX, khi nhà văn viết tác phẩm này và thực tế ngày nay của không ít đất nước đói nghèo trên trái đất, đã xoá đi mộng tưởng của em bé bán diêm và biết bao người nghèo khổ khác nữa. Vì thế, khi em bé được gặp lại bà cũng là lúc em giã từ cõi đời. Đoạn kết thúc tác phẩm, từ câu "Sáng hôm sau…" đến hết, kể về cái chết của cô bé bán diêm. Từ những dòng văn bay lượn, chói sáng đầy chất lãng mạn ở cuối đoạn trên, đến đây, ngôn từ như trĩu xuống, nhẹ nhàng, thấm thìa một âm điệu buồn thương. Có buồn, có thương nhưng không bi luỵ mà vẫn trong sáng và nồng ấm, đúng như ánh sáng và hơi ấm của một ngày đầu năm. "Em đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa". Cho đến những dòng cuối cùng của tác phẩm, nhà văn vẫn dùng những hình ảnh đối lập, tương phản rất đặc sắc. Giữa ngày đầu năm hứa hẹn những mầm sống mới mọc lẽn, có một em bé chết. Người chết trong băng giá từ đêm khuya mà đến rạng sáng đôi má vẫn hồng, đôi môi đang "mỉm cười". Mọi người bảo nhau: "Chắc nó muốn sưởi cho ấm", một công việc bình thường, nhưng thực ra em bé đã sống những phút kì diệu, giữa cảnh "huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm"… Miêu tả "một cảnh tượng thương tâm" vể cái chết của cô bé bán diêm, ngòi bút của An-đéc-xen vừa thực, vừa mộng. Sự thực là em bé khốn khổ kia đã chết. Nhưng đây là một cái chết đẹp, hình hài thể xác chết mà linh hồn, khát vọng của em bé vẫn sống, sống trên đôi má hồng, đôi môi đang mỉm cười, sống trong cánh tượng huy hoàng cùng bà bay lên đón năm mới. Nói về cái chết, người ta hay nghĩ tới bi kịch. Nhưng viết về cái chết của cô bé bán diêm như thế, tác phẩm của An-đéc-xen là một hi kịch lạc quan. Rõ ràng, đến những dòng cuối của áng văn, tình thương, niềm tin con người và khát vọng những điều tốt đẹp nhất cho con người trong cõi lòng nhà vãn Đan Mạch – ông già kể chuyện cổ tích nổi tiếng ấy, thấm đẫm chất nhân đạo, nhân văn.

Xem thêm:  Cảm nhận đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích - 3 bài văn phân tích đầy đủ hay nhất

Có thể nói, An-đéc-xen "biết khám phá những khía cạnh thần kì, bất ngờ ngay trong những sự việc đơn gián hằng ngày, đưa chúng vào thế giới thần thoại đầy chất thơ, nhưng vẫn giải quyết chúng phù hợp với những quan niệm nhân sinh và xã hội tiến bộ của mình". Truyện Cô bé bán diêm có nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng, với các chi tiết tương phán, diễn biến hợp lí, truyền cho chúng ta lòng thương cảm đối với một em bé bất hạnh, lay động trong ta tình thương và niềm tin ở con người, nhất là những con người phải dối mặt với những khó khăn thử thách ở đời vẫn không nguôi mong muốn, khát vọng những điều tốt đẹp nhất.

Phân tích truyện ngắn cô bé bán diêm – Bài làm 2

Hanx Cri-xti-an An-đéc-xen (1805 – 1875) sinh ra trong một gia đình nghèo khổ trên đất nước Đan Mạch, vốn là người đa cảm và có năng khiếu văn chương, ông trở thành nhà văn nổi tiếng với loại truyện dành cho thiếu nhi. Cái tên An-đéc-xen rất quen thuộc với bạn đọc năm châu. Không chỉ trẻ em mà người lớn cũng yêu thích truyện của ông bởi sức hấp dẫn lạ lùng được tạo nên từ sự kết hợp tài tình giữa hiện thực và tưởng tượng, cùng với tính chất hoang đường, kì ảo. Tình thương yêu con người và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của điều thiện là nội dung bao trùm lên toàn bộ sáng tác của An-đéc-xen.

Cô bé bán diêm là câu chuyện vô cùng cảm động về số phận bất hạnh của một cô bé nghèo khổ trong xã hội tư bản đương thời. Đói và rét, cô bé ao ước có lò sưởi ấm, có thịt ngỗng quay, có cây thông Nô-en và bà nội sống dậy cùng em đón giao thừa. Xót xa thay, tất cả đều là mộng tưởng Ị Cô bé đã chết cóng trong đêm đông giá lạnh.

Bố cục câu chuyện có thể chia làm ba phần. Phần thứ nhất giới thiệu hoàn cảnh cơ cực của cô bé bán diêm. Phần thứ hai (trọng tâm) kể về những lần quạt diêm và bao hình ảnh đẹp đẽ hiện lên trong trí tưởng tượng của cô bé. Phần thứ ba miêu tả cái chết thương tâm của cô bé trong đêm đông giá lạnh.

Phần trọng tâm có thể chia làm 5 đoạn nhỏ, dựa vào các lần cô bé quẹt diêm. Bốn lần đầu, mỗi lần cô bé chi quẹt một que diêm. Lần thứ năm cô bé quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao.

Thời điểm xảy ra câu chuyện khá đặc biệt: Đêm giao thừa, mọi người sum họp dưới mái ấm gia đình để cùng nhau tiễn đưa năm cũ và đón chào năm mới trong không khí thiêng liêng, ngập tràn hạnh phúc. Riêng cô bé mồ côi mẹ, đầu trần, chân đất, váy áo phong phanh, bụng đói meo đang dò dẫm trong bóng tối. Suốt ngày hôm nay, cô bé lang thang khắp nơi mà không bán được bao diêm nào.

Lúc này, quang cảnh xung quanh cô bé đẹp đẽ, ấm áp lạ thường: cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Những hình ảnh ấy gợi cô bé nhớ lại năm xưa được đón giao thừa bên bà nội hiền hậu trong căn nhà xinh xắn có đầy dẫy thường xuân bao quanh. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh tương phản làm nổi bật tình cảnh hết sức tội nghiệp của cô bé. Em đang rét và có lẽ càng rét hơn khi thấy mọi nhà rực sáng ánh đèn. Em đang đói, có lẽ càng đói hơn khi ngửi thấy mùi ngỗng quay sực nức. Chẳng có điều gì tốt đẹp chờ đợi cô bé ngoài cái xó xinh tối tăm, rét mướt, đầy tiếng mắng nhiếc, chửi rủa cửa người cha thô lỗ, cộc cằn. Những lần đón giao thừa năm xưa vui vẻ cùng bà và cha mẹ giờ đây đã lùi vào dĩ vãng. Tai họa đã làm cho gia đình cô bé tan nát. Mẹ mất, bà nội cũng qua đời, em không còn được ai yêu thương, ấp ủ.

Giờ đây, cô bé ngồi nép trong một góc tường giữa hai ngôi nhà… cho đỡ lạnh. Không bán được diêm, sợ bị cha đánh đòn nên em chẳng dám về nhà, vả lại ở nhà cũng đói, cũng rét như ở đây thôi: Cha con em ở trên gác sát mài nhà và mặc dầu đã nhét giỗ rách vào các khe hở lớn trên vách, gió vẫn thổi rít vào trong nhà.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

Giữa đêm giao thừa giá buốt, cô bé lủi thủi một mình với chiếc giỏ đựng diêm. Lúc em nép vào một góc tường để tránh cơn gió bấc rét thấu xương cũng là lúc những khao khát cháy bỏng bùng lên trong trái tim nhỏ bé. Đôi bàn tay em cứng đờ vì lạnh, em ao ước được sưởi ấm bằng một que diêm: Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ? Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ? Cuối cùng em đánh tiêu quẹt một que. Diêm bén lửa thật là nhạy. Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt.

Que diêm thứ nhất soi tỏ niềm vui sáng ngời trong đôi mắt cô bé tội nghiệp. Ngọn lửa chắp cánh cho trí tưởng tượng của em bay bổng: Em hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Chà! Ánh sáng kì dị làm sao! Em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng.

Thật là dễ chịu! Đôi bàn tay em hơ trên ngọn lửa; bên tay cầm diêm, ngón cái nóng bỏng lên. Chà! Khi tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút mà được ngồi hàng giờ như thế, trong đêm đông rét buốt, trước một lò sưởi, thì khoái biết bao!

Thực tế và mộng tưởng xen kẽ với nhau. Trong ánh lửa bập bùng của que diêm, những hình ảnh của cuộc sống đầy đủ hiện ra rõ ràng trong đầu óc cô bé. Mải mê tưởng tượng nên que diêm cháy gần bén ngón tay mà em không thấy nóng. Em ao ước lúc này mà được ngồi trước lò sưởi để hơ đôi bàn tay đã cứng đờ vì lạnh thì sung sướng biết bao! Que diêm cháy hết, cô bé lại trở về với hiện thực phũ phàng:

Em vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất. Em ngồi đó, tay cầm que diêm đã tàn hẳn. Em bẩn thần cả người và chợt nghĩ ra rằng cha em đã giao cho em đi bán diêm. Đêm nay về nhà thế nào cũng bị cha mắng.

Sợ thì sợ nhưng những ảo ảnh đẹp đẽ do ngọn lửa của que diêm thứ nhất tạo ra vẫn lôi cuốn, hấp dẫn em mãnh liệt. Em muốn tiếp tục được sống trong thế giới kì diệu ấy: Em quẹt que diêm thứ hai, diêm chảy và sáng rực lên. Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màu. Em nhìn thấu vào tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay. Nhưng điều kì diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa và mang cả dao ăn, phuốc-sốt cắm trên lưng, tiến về phía em bé.

Rồi… que diêm vụt tắt; trước mặt em chi còn là những bức tường dày đặc và lạnh lẽo.

Đáng buồn thay! Những ảo ảnh đó chỉ hiện lên trong chốc lát. Lửa tắt, vây quanh em vẫn là bóng tối mịt mùng, là cái lạnh thấu xương, cái đói rã rời và đáng sợ hơn cả là nỗi cô đơn không ai chia sẻ: Thực tế đã thay thế cho mộng tưởng; chẳng có bàn ăn thịnh soạn nào cả, mà chi có phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phũ trắng xóa, gió bấc vi vu và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của cô bé bán diêm.

Tuy vậy, em vẫn không tuyệt vọng. Trí tưởng tượng phong phú đã đem lại cho em những ao ước mới: em muốn đêm Giáng Sinh phải có cây thông Nô-en nên quyết định quẹt que diêm thứ ba: Em quẹt que diêm thứ ba. Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Nô-en. Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây mà em được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong các tủ hàng, hiện ra trước mắt em bé. Nhưng rồi diêm tắt. Tất cả các ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời. Xung quanh em vẫn là hai bức tường và đêm tối, rồi em nghĩ tới bà em vì bà em, người hiền hậu độc nhất đối với em, đã chết từ lâu, trước đây thường nói rằng: “Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hồn bay lên trời với Thượng đế”.

Em quẹt que diêm nữa vào tường, một ánh sáng xanh toả ra xung quanh và em bé nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em.

– Bà ơi! Em bé reo lên, cho cháu đi với! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Nô-en ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này; trước kia khi bà chưa về với Thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết bao! Dạo ấy bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.
Que diêm tắt phụt, và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biến mất.

Lần thứ năm, em quẹt hết những que diêm còn lại để níu kéo hình ảnh của bà, để được bà cho đi theo đến một thế giới không còn đói rét và đau khổ:
Thế là em quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Em muốn níu bà em lại! Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chưa bao giờ em thấy bà em to lớn và đẹp lão như thế này. Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về chầu Thượng đế.

Các mộng tưởng của em bé diễn ra lần lượt theo thứ tự như trên là hợp lí. Vì trời rất rét nên trước hết em mơ tưởng đến lò sưởi. Tiếp đó vì đang đói nên em mơ tưởng đến bàn ăn đầy thức ăn ngon mà sau các bức tường kia, mọi nhà đang đón giao thừa. Vì là đêm giao thừa nên ngay sau đó, cảy thông Nô-en hiện ra. Đến đây, tất nhiên mọi điều đều gợi cho em nhớ đến đã có một thời, em cũng được đón giao thừa như thế, khi bà nội còn sống và bất chợt, hình ảnh bà em xuất hiện.

Kết thúc câu chuyện là sự đối lập giữa cảnh đời vui vẻ và cái chết bi thảm của em bé bán diêm:

Sáng hôm sau, tuyết vẫn phũ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà.

Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường, người ta thấy một em bé gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Em đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa.

Ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Mọi người bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấm!”, nhưng chẳng ai biết những cái kì diệu em đã trông thấy, nhất là cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón những niềm vui đầu năm.

Em bé thật đáng thương! Chỉ có mẹ và bà thương yêu em, nhưng họ đều đã qua đời. Cha em có lẽ vì quá nghèo khổ nên đã đối xử với em tàn nhẫn. Người qua đường nhìn thấy thi thể em vào buổi sáng đầu năm với thái độ dửng dưng, vô cảm. Trong xã hội tư bản thiếu sự đồng cảm và tình thương yêu giữa người với người, nhà văn An-đéc-xen đã viết truyện này với niềm xót thương vô hạn đối với em bé bán diêm bất hạnh nói riêng và cả tầng lớp người nghèo khổ nối chung. Để làm dịu bớt nỗi đau đang nhức nhối trong tim và cũng để an ủi những linh hồn tội nghiệp, nhà văn đã miêu tả em bé chết nhưng đôi má vẫn hồng và đôi môi đang mỉm cười, đồng thời hình dung ra cảnh huy hoàng hai bà cháu bay lên trời để đón lấy những niềm vui đầu năm. Tuy vậy, nội dung câu chuyện Cồ bé bán diêm với kết thúc thương tâm của nó vẫn khiến người đọc cảm động rơi nước mắt.

Xem thêm:  Đề kiểm tra Ngữ Văn học kỳ II Lớp 9của tỉnh Khánh Hòa

Phân tích truyện ngắn cô bé bán diêm – Bài làm 3

Nhà văn An- Đéc- Xen là một nhà văn nổi tiếng với những câu chuyện cổ tích có hậu dành cho những em bé thiếu nhi trên khắp trái đất. Mỗi câu chuyện của ông đều thể hiện những ước mơ của những em bé khốn khổ, trên mọi miền đất nước. Ông thường mang tới cho những mảnh đời bất hạnh nhỏ bé những hy vọng sống trong cuộc đời này.

Nhưng trong truyện ngắn “Cô bé bán diêm” nhà văn An-Đéc- Xen lại lựa chọn một kết thúc hoàn toàn trái ngược với những gì bình thường ông hay làm. Ông chọn cho câu chuyện một kết thúc bi đát nhất, như một lời tố cáo sự nhẫn tâm, hờ hững của những người lớn, những con người hạnh phúc trước những số phận nhỏ bé bất hạnh.

Câu chuyện được xảy ra trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt vào đêm cuối năm, khi thời khắc giao thừa chuyển đổi giữa năm cũ và năm mới đang tới rất gần. Đây là thời khắc, giây phút vô cùng thiêng liêng nó mang tới niềm hy vọng cho mỗi con người khi bước vào một năm mới sẽ được hạnh phúc, may mắn an lành hơn năm cũ.

Tác giả An- Đéc- Xen đã lựa chọn những hình ảnh đối nghịch với nhau để làm nổi bật lên sự hạnh phúc của những con người vô tâm với sự bất hạnh của cô bé bán diêm của chúng ta.

Cô bé của chúng ta đói lắm, rét lắm, nhưng em không thể nào về nhà bởi nếu em về nhà thì cũng chẳng ấm áp hơn là bao, lại còn bị cha em đánh. Nếu em không bán được bao diêm nào, ngày mai ông ta không có tiền để uống rượu ông ấy sẽ trút sự bực tức lên người em. Nghĩ vậy cô bé bán diêm cứ tiếp tục lần mò trong đêm tối với hy vọng có ai đó thương mình mua cho mình một bao diêm nhỏ.

Nhưng càng đi càng vô vọng, hai tay cô bé đã lạnh cóng, bụng kêu lên ồn ào, trong bóng tối của hai ngôi nhà, nơi có một cái khe nhỏ cô bé của chúng ta mệt mỏi, rét buốt ngồi sụp xuống đó để có thể tránh được những cơn gió tuyết hất vào mặt.

Em nhớ tới những người thân của mình mẹ em đã qua đời từ rất lâu rồi, em sống với bà ngoại và cha của mình. Chỉ có bà ngoại là người duy nhất trên đời này thương yêu em. Nhưng bà đã qua đời từ năm ngoái, nên giờ chẳng còn ai thương em quan tâm tới em cả.

Giữa đêm giao thừa buốt lạnh, cô bé bán diêm lủi thủi một mình trong bóng tối. Cô bé nhìn những bao diêm không bán được, rồi nghĩ sao mình không quẹt chúng lên cho ấm. Nghĩ vậy cô lấy một que diêm ra rồi bắt đầu quẹt. Trong ánh sáng lung linh diệu kỳ đó cô bé bán diêm nhìn thấy một bàn toàn đồ ăn rất thịnh soạn. Có cả ngỗng qu, thìa, đũa đều bằng bạc  sáng loáng. Trong lúc này, với cái bụng đói meo việc cô bé của chúng ta mơ ước một bữa ăn no thật là điều vô cùng dễ hiểu.

Khi que diêm vụt tắt, chiếc bàn chứa đầy thức ăn biến mất, trả cô lại với những mảng tối om, những cơn gió tuyết rít qua từng hồi, lạnh cóng. Cô lại tiếp tục quẹt que diêm thứ hai lên, lần này cô nhìn thấy một chiếc lò sưởi vô cùng ấm áp, chiếc lò sưởi tỏa ra hơi nóng vô cùng kỳ diệu. Nó sưởi ấm tâm hồn và cơ thể đang lạnh giá của cô bé đáng thương.

Rồi que diêm vụt tắt cô lại quẹt que thứ ba lên lần này cô nhìn thấy một cây thông nô en lấp lánh nhiều ánh đèn vô cùng đẹp. Trên cây thông có nhiều món quà lớn nhỏ khác nhau. Trong đời cô bé chưa bao giờ nhìn thấy một cây thông nô en lớn như vậy. Cô bé vô cùng hạnh phúc.

Lần thứ tư quẹt diêm lên cô bé nhìn thấy bà ngoại của mình. Bà nhìn cô âu yếm nụ cười hiền hậu như ngày nào. Cô bé òa khóc gọi lớn “Bà ơi cho cháu theo với”. Rồi cô cứ thế quẹt hết que diêm này tới que diêm khác cho tới khi không con que diêm nào trong giỏ nữa. Khi que diêm cuối cùng vụt tắt cô thấy linh hồn mình thoát ra khỏi thể xác. Nó mọc hai chiếc cánh màu trắng rồi bay lên trời đi cùng bà ngoại của cô. Cô nhìn lại cái xác không hồn của mình, lạnh lẽo bơ vơ nơi hẻm nhỏ lần cuối rồi vụt biến mất.

Trên môi của cái xác vẫn còn một nụ cười chưa tắt dường như cô bé đó đã mãn nguyện lắm.
Sáng hôm sau, ngày đầu tiên của năm mới người ta tìm thấy xác của một cô bé nằm co ro nơi khe nhỏ của hai ngôi nhà. Trên môi em vẫn còn nở nụ cười. Một năm mới đã được bắt đầu như vậy.

Khi cô bé còn sống chính sự vô tâm của những con người trong xã hội kia đã khiến em phải chịu cảnh cơ cực. Ngay cả người thân của em như ba của em cũng không thương em. Ông ta thường xuyên ra tay đánh đập em thì còn ai thương em nữa.

Chính vì vậy, việc câu chuyện kết thúc bằng sự ra đi của cô bé, cô đi theo bà ngoại của mình người duy nhất trên đời này thương yêu cô. Đó chính là một kết thúc đau đớn nhưng lại là kết thúc viên mãn nhất cho cô bé tội nghiệp của chúng ta.

Trước khi chết em đã được nhìn thấy những ước mơ của mình. Khi sống em không được hưởng nhưng khi chết em có thể chạm được tới gần nó hơn. Dù đó chỉ là những ước mơ vô cùng giản dị với những cô bé cậu bé có cha mẹ yêu thương, có cuộc sống đầy đủ.

Nhưng mơ ước của em thể hiện qua những lần quẹt que diêm lên, nó chỉ là bàn ăn, cây thông, lò sưởi và tình yêu thương của người thân cụ thể là bà ngoại của em. Nó chính là những mơ ước, mong muốn vô cùng chân thực, giản dị, mộc mạc…mà bất kỳ đứa trẻ nào sinh ra trên đời này đều mong ước có được.

Cái chết của cô bé bán diêm tội nghiệp như một lời tố cáo tới tội ác, sự thờ ơ không quan tâm của người lớn với những mảnh đời trẻ thơ tội nghiệp xung quanh chúng ta.

Thông qua câu chuyện này ta có thể thấy được tinh thần nhân văn cao thượng của nhà văn An- Đéc- Xen với những mảnh đời bất hạnh trong cuộc sống này.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Phân tích truyện ngắn cô bé bán diêm hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Phân tích truyện ngắn cô bé bán diêm thật hay và đạt được kết quả cao.

Post Comment