Văn mẫu lớp 11

Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa

Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa

Tổng hợp những bài làm văn Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa hay nhất của các bạn học sinh giỏi văn đạt điểm cao. Mời các bạn đọc tham khảo và dựa vào đây viết cho mình một bài văn Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa thật hay. Chúc các bạn luôn luôn học tập tốt.

Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa – Bài làm 1

Truyện ngắn của Nam Cao viết về đề tài người trí thức nghèo trong xã hội cũ đã để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. “Trăng sáng”, “Đời thừa”, ‘‘Mua nhà”, “Sống mòn”… là những tác phẩm độc đáo mang tính chất tự truyện của ông.

Nhân vật “Tôi” trong mua nhà, đã tâm sự qua thư gửi bạn: “Tôi làm việc ghê gớm lắm. Tôi giết dần tôi đi để kiếm tiền…”. Và sau trận bão, cái nhà tre “như một người già khuỵu gối”, “tôi cố làm việc hơn trước nữa, tôi sẽ giết tôi nhanh hơn trước nữa”,… Nhà văn Hộ trong “Đời thừa” cũng vậy, anh đã trải qua bi kịch đầy nước mắt, giằng xé lương tâm. Qua nhân vật Hộ, tác giả phản ánh chân thực tình cảnh nghèo khổ, tủi nhục, bế tắc của người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Tấn bi kịch tinh thần của Hộ cũng như của những nhà văn nghèo trước Cách mạng được Nam Cao thể hiện một cách sâu sắc, chân thực, cảm động, từ đó đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn.

Hộ là một nhà văn nghèo có lương tâm và có tài. Khi chưa có vợ con “với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiểm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ”. Nhưng từ khi “đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn”, với một bầy con thơ “nhiều đen, nhiều sài. quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc”, thì Hộ đã rơi vào tấn bi kịch ghê gớm, bị cái nợ áo cơm ghì sát đất! Hộ cứ luẩn quẩn mãi trong bao nỗi khổ tàm “thứ nhất con đói, thứ hai nợ đòi, thứ ba nhà dột” như dân gian đã nói.

Hộ vốn là một nhà văn rất có ý thức sâu sắc về sự sống. Anh muốn sống đẹp, muốn “nâng cao giá trị đời sống” của mình bằng một sự nghiệp văn chương có ích cho đời. Nhưng rồi năm tháng trôi qua, cuộc đời quá phũ phàng, “kết cục chẳng làm được cái gì”, mọi ước mơ tiêu tan, Hộ dần dần trở thành một ké ‘‘vô ích”, sống một “đời thừa” cay đắng.

Hộ vốn là nhà văn có tài và tự tin, từng ôm ấp “một hoài bão lớn”, một mộng đẹp văn chương. Với Hộ “đói rét không có nghĩa lí gì”, hắn “khinh nhưng lo lắng tủn mủn về vật chất”. Hắn say mê lí tưởng, đầu hắn “chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở”. Với Hộ “nghệ thuật là tất cả”. Hộ khao khát vinh quang “băn khoăn nghĩ tới một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời”. Phải nói rằng cái khao khát ấy của Hộ là chính đáng, là ước mong chân chính của người có tài, có lương tâm, muốn khẳng định mình trong xã hội. Hộ không muốn sống tầm thường nhạt nhẽo. Khao khát của anh không phải là sự thèm khát hư danh và hám lợi của bọn tiểu nhân, phàm tục!

Lí tưởng sống vì nghệ thuật, “nghệ thuật là tất cả” của Hộ rất trong sáng và đẹp. Đâu phải là mơ hồ viển vông! Đâu phải là quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật”! Mà đó là sự say mê lớn của một nhà văn muốn đem tài năng thi thố với đời. Sự nghiệp văn chương của Hộ luôn hướng tới cái Chân, Thiện, Mĩ, như đem hoa thơm trái ngọt để lại cho đời, mỗi trang văn cuốn sách đều tấm đẫm tinh thần nhân đạo. Anh đã từng tâm sự với bạn văn bút về một tác phẩm văn chương đích thực mà anh đang nung nấu, vươn tới sáng tạo. Tác phẩm ấy “thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn”. Tác phầm ấy “thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn”. Tác phẩm ấy “phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn”. Đó là những lời tâm huyết, rất sâu sắc và tiến bộ. Quan điểm nghệ thuật ấy là quan điểm nghệ thuật hướng tới con người, vì hạnh phúc của con người.

Hộ là một nhà văn vừa mẽ văn vừa tự hào về cái nghề cầm bút của mình. Mỗi lần đọc dược đoạn văn hay, một câu văn hay, hắn “ngẫm nghĩ và để cho cái khoái cảm ngân ra trong lòng”. Với Hộ, văn chương là một món ăn tinh thần vô giá. Mỗi lần đọc được một đoạn văn hay, cảm được cái hay của văn chương “thì dẫu ăn một món ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm!”.

Hộ đã từng tâm sự với Từ: “Nghĩ cho kĩ, đời tôi không đáng khổ mà hóa khổ, chính tôi làm cái thân tôi khổ, tôi mê văn quá nên mới khổ” (..) “nhưng thử có người giàu bạc vạn vào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi”. Đó là một lời tự thú cảm động của những con người “đã mang cái nghiệp vào thân”. Sự “mê văn quá” của Hộ là một trong những nguyên nhân phát sinh tấn bi kịch cua người trí thức nghèo trong xã hội cũ.

Hộ có tài, có tâm, có lí tưởng đẹp, có hoài bão lớn, nhưng đâu dễ thực hiện được! Hắn phải gánh trên đôi vai gầy của mình cái gánh nặng vợ con, bao thì giờ bị ngốn vào “những bận rộng tẹp nhẹp, vô nghĩa lí”. Nợ nần triền miên: ‘tiền nhà… tiền giặt… tiền thuốc… tiền nước mắm…”. Nhiều lúc Hộ phải “sầm mặt lại” trước “những lo lắng liên miên về vật chất”, hắn mới thấm hiểu “giá trị của đồng tiền”, hắn mới thấm hiểu nỗi đau khổ của một người chồng “khi thấy vợ mình đói rách”. Nếu trước kia hắn “viết thận trọng”, chăm chút từng trang văn thì giờ đây “hắn phải cho in nhiều cuốn Văn viết vộ vàng… phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc”. Hắn vô cùng xấu hổ mỗi lần đọc lại một cuốn sách, hay một đoạn văn kí tên mình, “hắn đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng, vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn”.

Vốn có tài và giàu lương tâm nghề nghiệp, nhưng trước cuộc sống vật chất, cơm áo ngặt nghèo, vợ con thúc bách ngày đêm, Hộ không còn được trau dồi nghệ thuật nữa, hắn phải viết “toàn những cái vô vị nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi”.

Với Hộ, nhà văn không thể làm theo, bắt chước người, mà phải sáng tạo, “biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”. Nhìn lại những gì hắn đã viết ra, hắn “buồn lắm, buồn lắm” Hắn xót xa buồn tủi cảm thấy mình là “một người thừa”, tự dằn vặt mình lá “một kẻ bất lương”, là “đê tiện”. Khát vọng thì cao xa mà rút cuộc, Hộ “chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương”. Hắn vùng vẫy trong đau đớn, tủi nhục, “điên người lên vì phải xoay tiền”. Bao mộng đẹp tiêu tan, bao dự định cuối cùng chỉ là tờ giấy trắng! Hắn vô cùng “chán ngán”, mang tâm trạng buồn thảm như “một kẻ phải đi đày”. Có lúc hắn thở dài ngao ngán: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi!”. Lòng Hộ “rũ buồn”. Còn có gì buồn hơn “còn có gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì mà nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt?”. Đó là bi kịch của một nhà văn, một kẻ sĩ mang mộng đẹp, hoài bão lớn, cuối cùng rất tầm thường, toan tính tủn mủn, phải sống như “một kẻ vô ích, một người thừa”.

Nhưng bi kịch tinh thần của văn sĩ Hộ đây chỉ có thế! Anh ta là một người chồng tốt, một người cha giàu tình thương con, nên bi kịch thứ hai này không kém phần đau đớn. Đó là bi kịch của một trí thức coi tình thương là nguyên tắc sống cao nhất, hi sinh tất cả cho tình thương, nhưng lại cứ sống bê tha, tàn nhẫn, thô bạo, gây đau khổ cho vợ con, chà đạp lên nguyên tác tình thương đó của mình.

Xem thêm:  Dàn ý Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến)

Từ là một cô gái lỡ làng. Hộ đã nhận Từ làm vợ, nhận làm bố cho đứa con thơ, lo việc ma chay cho mẹ Từ. Một tấm lòng, một tình thương gần như nghĩa hiệp. Hộ đã “cúi xuống nỗi đau khổ của Từ”. Nhưng rồi, gia cảnh ngày một thay đổi, “đứa con này chưa kịp lớn lên, đứa con khác đã vội ra”, có nhiều lúc “hắn còn điên lên vì con khóc”. Một đôi lần, hắn thoáng nghĩ bỏ mặc vợ con, để được rảnh rang viết, thoát khỏi tình trạng “đời thừa”. Nhưng vốn nhân hậu, anh không thể chấp nhận sự tàn nhẫn như thế! Anh không thể sống ác, sống tàn nhẫn, như ai đó đã nói? Với Hộ tình thương là trên hết, hắn sẵn sàng “hi sinh” hoài bão nghệ thuật để giữ lấy tình thương, dù đó là một sự “hi sinh” quá lớn đối với anh. Hắn tự bảo: “Ta đành phí đi một vài năm để kiếm tiến Nhưng để vượt lên khỏi cảnh ngộ, hắn quyết “không thể bỏ lòng thương” bởi lẽ, như hắn quan niệm: “kẻ mạnh chính là kẻ giúp đã kẻ khác trên đôi vai mình”

Sự đời, mọi đau khổ về bi kịch tinh thần đâu dễ gì một sớm một chiều mà có thể xua tan được? Để quên đi nỗi đau về sự tủi nhục, Hộ đã tìm đến rượu. Hắn ta đã chìm sâu vào vòng bi kịch, sau mỗi lần say. Say rượu, tâm tính Hộ thay đổi quá lớn thật đáng sợ. Có lúc, “hắn đã ngủ một nửa ngay từ khi còn ở dọc đường”. Có lúc hắn “đã đổ xuống như một khúc gỗ xuống bất cứ cái giường nào, ngủ say như chết”. “Có lúc hẳn lảo đảo bước vào nhà, mắt gườm gườm, đôi môi mím chặt…”. Có lần say rượu hắn đ đánh Từ, đòi “vật một nhát cho chết cả” mấy mẹ con Từ. Nhưng rồi khi tỉnh rượu hắn “bẽn lẽn” xin lỗi Từ “hôn hít các con như một người cha tốt”, tuyên bố chừa rượu, sau đó lại say, lại làm những trò vừa buồn cười, vừa đáng sợ như lần trước. Say rồi tỉnh tỉnh rồi say. Cái vòng luẩn quấn ấy, Hộ phải qua nhiều ngày tháng u uất, “âm thầm đau khổ”. Hộ lâm vào bế tắc nặng nề, thậm chí có lần anh dốc sạch tiền nhuận bút vào quán rượu, say rượu, đánh đuổi vợ con ra khỏi nhà giữa đêm khuya. Hình ảnh Hộ, sau cơn say, tỉnh dậy “mắt nhớn nhác tìm Từ”, dịu dàng nắm lấy tay Từ, lòng hối hận “khóc nức nở” là hình ảnh cảm động nhất về tấn bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Tiếng hát ru con của Từ phải chăng là để làm vơi đi ít nhiều nỗi đau đớn tinh thần của người chống thương yêu đang trải qua tấn bi kịch nặng nề, u ám:

“… Ai làm cho Nam Bắc phân kì / Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân?”

Trước Cách mạng, thi sĩ Tản Đà đã có lần cảm khái: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo…”. Sau này, nhà thơ Xuân Diệu lại viết: “Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt – Cơm áo không đùa với khách thơ”. Với truyện ngắn “Đời thừa”, Nam Cao đã phản ánh một cách cảm động, đau xót bi kịch tinh thần của một người trí thức nghèo trong xã hội thực dân phong kiến. Tác giả đã lên án cái xã hội ngột ngạt bóp chết mọi mơ ước, tước đi cuộc sống chân chính của con người, đồng thời đã đầu độc tâm hồn con người và mối quan hệ vốn đẹp đẽ giữa người và người. Tấn bi kịch tinh thần của Hộ đã ghi lại cuộc đấu tranh tư tưởng của người trí thức trung thực, trong cảnh ngộ bế tắc, cố vươn lên giữ vững lẽ sống nhân đạo.

“Đời thừa” hay “Sống mòn’’ là chủ đề bao trùm nhiều sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng. Hộ, Điền, Thứ… là hiện thân cho nỗi đau khổ, tủi nhục của người trí thức nghèo. Hãy tạo ra một môi trường sáng tác lành mạnh trong xã hội tốt đẹp để mọi nhà văn có thể đem tài năng sáng tạo, sống có ích cho đời. Phải thay đổi cái cuộc đời ngột ngạt để cứu lấy con người, cứu lấy sự sống. Đó chính là ý nghĩa tư tưởng tích cực của sáng tác có tầm vóc này mà chúng ta cảm nhận được! “Đời thừa” là tiếng kêu thương đầy lệ!

Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa – Bài làm 2

Nam Cao là người có vẻ ngoài lạnh lùng ít nói nhưng lại có đời sống nội tâm phong phú và một tấm lòng nhân hậu chan chứa tình thương. Ông hay suy nghĩ về nhiều vấn đề xã hội để rồi từ đó rút ra những nhận xét có tầm triết lí và nhân sinh mới mẻ. Nội tâm Nam Cao thường diễn ra xung đột gay gắt giữa cái tốt và cái xấu, giữa giả dối và chân thật, giữa tinh thần cao cả và dục vọng tầm thường. Một số tác phẩm mang tính chất tự truyện như Mua nhà, Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn… đã nói lên điều đó.

Truyện ngắn Đời thừa (đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, 1943) là một trong những sáng tác đặc sắc nhất của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945. Thông qua nhân vật Hộ (bóng dáng nhà văn), tác giả phản ánh chân thực tình cảnh cực khổ, tủi nhục, bế tắc của tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ nghèo trong xã hội cũ. Nam Cao tập trung thể hiện bi kịch tinh thần của họ, từ đó đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn.

Hộ là một nhà văn có ý thức sâu sắc về cuộc sống. Anh muốn nâng cao giá trị đời sống cá nhân bằng một sự nghiệp có ích cho xã hội và được xã hội công nhận. Nhưng chỉ vì gánh nặng áo cơm hằng ngày cuốn anh vào những toan tính vụn vặt, tầm thường nên rốt cục anh chẳng làm được cái gì hữu ích cho đời. Anh đau khổ vì phải sống một đời thừa, bất lực nhìn những ước mơ, khát khao đẹp đẽ bị thực tế phũ phàng vùi dập.

Là một nhà văn, Hộ từng ôm ấp một hoài bão lớn về sự nghiệp văn chương và vì nó, anh có thể hi sinh tất cả. Anh mong ước sẽ sáng tạo ra những tác phẩm thật sự có giá trị, vượt lên tất cả bờ cõi và giới hạn, bằng cách đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có.Hộ khao khát vinh quang, khao khát được khẳng định tài năng của mình trước cuộc đời. Anh không muốn sống một cuộc sống vô vị và vô nghĩa. Đó chính là niềm say mê quên mình vì một hoài bão lớn của con người sống có lí tưởng. Quan niệm về văn chương nghệ thuật của Hộ hết sức đúng đắn và tiến bộ. Anh đã từng phát biểu ý kiến trước bạn bè về giá trị của một tác phẩm văn chương đích thực: Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn.

Là kẻ có tâm, có tài, Hộ say mê văn chương đến độ coi văn chương là lí tưởng, là lẽ sống. Anh tự hào vì có được một tâm hồn nhạy cảm, phong phú và cho rằng không có lạc thú vật chất nào so sánh được. Hộ quyết tâm biến hoài bão lớn lao mà anh hằng ôm ấp thành hiện thực.

Nhưng khổ thay cho Hộ, anh không thể biến ước mơ thành hiện thực vì những lo lắng liên miên về vật chất, những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí của đời sống cơm áo hằng ngày mà anh phải lo cho gia đình đã choán hết tâm trí, thời gian của Hộ. Vợ yếu, con đau, nhà cửa xác xơ, túng quẫn… Cái gì cũng cần đến đồng tiền, mà Hộ thì chỉ có thể kiếm tiền bằng ngòi bút. Cuộc sống nghèo túng, chạy ăn từng bữa bắt buộc Hộ phải viết những điều anh không muốn viết. Đó là thứ văn cẩu thả, dễ dãi, rẻ tiền mà anh gọi là văn chương quấy loãng để rồi hình dung ra lúc người đọc chửi mình mà xấu hổ đỏ mặt, tự rủa mình là đồ khốn nạn, bất lương. Hộ nói: Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.

Xem thêm:  Dàn ý Phân tích hình ảnh bà Tú trong bài Thương vợ

Tấn bi kịch tinh thần giằng xé tâm can Hộ chính là điều đó.

Chưa hết, Hộ còn rơi vào một bi kịch thứ hai cũng không kém phần đau đớn. Đó là bi kịch của con người coi tình thương là nguyên tắc sống cao nhất, sẵn sàng hi sinh tất cả cho tình thương nhưng tại phải sống tàn nhẫn, thô bạo với vợ con, chà đạp lên nguyên tắc sống do mình đặt ra. Vậy đâu là nguồn gốc nỗi đau giằng xé con người Hộ? Cả hai bi kịch của anh đều phản ánh một mâu thuẫn của xã hội: người có tài, có tâm muốn sống đẹp, sống tốt thì lại phải khốn khổ.

Bản chất của Hộ là người tốt. Anh quan niệm kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình. Vì thế anh đã cứu giúp Từ, một cô gái lỡ làng và cưới Từ làm vợ. Hộ đã cúi xuống nỗi đau khổ của Từ; thực hiện một hành vi như người ta làm việc nghĩa.

Những đắng cay của cuộc đời mà Hộ phải nếm trải nhiều khi khiến anh trở nên cau có, tàn nhẫn với vợ con. Bế tắc, anh tìm đến rượu để giải sầu nhưng mỗi lần tỉnh rượu, Hộ lại ân hận, xót xa. Anh xin lỗi vợ trong tiếng khóc nghẹn ngào: Anh chỉ là một thằng khốn nạn!

Muốn thoát khỏi tình trạng đời thừa, Hộ chỉ còn một cách là rũ bỏ trách nhiệm đối với gia đình, thoát li vợ con để rảnh rang theo đuổi giấc mộng văn chương. Nhưng vốn nhân hậu, anh không thể chấp nhận sự tàn nhẫn. Với Hộ, tình thương là tiêu chuẩn xác định tư cách làm người. Không có tình thương, con người chỉ là một thứ quái vật: Hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường. Nhưng hắn còn được là người.
Vì thế, anh không thể bỏ mặc vợ con để theo đuổi sự nghiệp văn chương. Anh đã hi sinh nghệ thuật để giữ lấy tình thương. Phải từ bỏ hoài bão lớn, anh âm thầm đau khổ, u uất, day dứt, nhất là khi gặp lại các bạn văn chương. Hộ thực sự lâm vào bế tắc. Không một chút tươi sáng dành cho số phận anh.

Nam Cao xoáy sâu vào bi kịch của người trí thức, văn nghệ sĩ nghèo, từ đó kín đáo kết án cái xã hội ngột ngạt, thối nát đã tước đoạt giá trị con người, không cho con người được sống đàng hoàng, tử tế theo đúng nghĩa của nó. Đối với tầng lớp trí thức vốn có ý thức cao về quyền sống, về đạo lí, thì đó là bi kịch tinh thần đau đớn nhất. Ý nghĩa nhân sinh của truyện ngắn Đời thừa là như thế.

Truyện ngắn Đời thừa là một tác phẩm có tính chất tự truyện của Nam Cao. Tác giả miêu tả tấn bi kịch của những người cầm bút trung thực. Đời thừa còn là một bản tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám. Qua nội dung tác phẩm, ông muốn nhấn mạnh vấn đề công phu và tài năng sáng tạo của nghệ sĩ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Trong lĩnh vực này, nếu người cầm bút chỉ viết được những cái vô vị, nhạt phèo, không có đóng góp gì mới cho xã hội thì chỉ là một kẻ vô ích, một người thừa mà thôi.

Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa – Bài làm 3

Nam Cao là người để lại nhiều tác phẩm quí giá và ý nghĩa sâu sắc cho người nền văn học Việt Nam,ông là người có vẻ ngoài lạnh lùng ít nói nhưng lại có đời sống nội tâm phong phú và một tấm lòng nhân hậu chan chứa tình thương. Nội tâm Nam Cao thường diễn ra xung đột gay gắt giữa cái tốt và cái xấu, giữa giả dối và chân thật, giữa tinh thần cao cả và dục vọng tầm thường. Một số tác phẩm mang tính chất tự truyện như Mua nhà, Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn… đã nói lên điều đó.

Đời thừa là một trong những sáng tác đặc sắc nhất của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945. Thông qua nhân vật Hộ, tác giả phản ánh chân thực tình cảnh cực khổ, tủi nhục, bế tắc của tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ nghèo trong xã hội cũ. Thông qua tác phẩm, tác giả Nam Cao tập trung thể hiện bi kịch tinh thần của họ, từ đó đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn.

Trong truyện ngắn, nhân vật Hộ là một nhà văn có ý thức sâu sắc về cuộc sống. Anh muốn nâng cao giá trị đời sống cá nhân bằng một sự nghiệp có ích cho xã hội và được xã hội công nhận. Nhưng đáng thương thay vì gánh nặng áo cơm hằng ngày cuốn anh vào những toan tính vụn vặt, tầm thường nên rốt cục anh chẳng làm được cái gì hữu ích cho đời. Anh đau khổ vì phải sống một đời thừa, bất lực nhìn những ước mơ, khát khao đẹp đẽ bị thực tế phũ phàng vùi dập.

Hộ từng ôm ấp một hoài bão lớn về sự nghiệp văn chương và vì nó, anh có thể hi sinh tất cả. Anh mong ước sẽ sáng tạo ra những tác phẩm thật sự có giá trị, vượt lên tất cả bờ cõi và giới hạn, bằng cách đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có.Hộ khao khát vinh quang, khao khát được khẳng định tài năng của mình trước cuộc đời. Anh không muốn sống một cuộc sống vô vị và vô nghĩa.

Vì chính niềm say mê này, Họ có thể làm tất cả quan niệm về văn chương nghệ thuật của Hộ hết sức đúng đắn và tiến bộ. Anh đã từng phát biểu ý kiến trước bạn bè về giá trị của một tác phẩm văn chương đích thực: Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình.

Nhưng khổ thay cho Hộ, anh không thể biến ước mơ thành hiện thực vì những lo lắng liên miên về vật chất, những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí của đời sống cơm áo hằng ngày mà anh phải lo cho gia đình đã choán hết tâm trí, thời gian của Hộ. Trong đó cảnh vợ yếu, con đau, nhà cửa xác xơ, túng quẫn… Cái gì cũng cần đến đồng tiền, mà Hộ thì chỉ có thể kiếm tiền bằng ngòi bút. Chính cuộc sống thực tại đã khiến Hộ phải xô bồ và chìm vào nó, không còn kẽ hở cho những lí tưởng hoài bão mà từng mơ ước nữa. Cuộc sống nghèo túng, chạy ăn từng bữa bắt buộc Hộ phải viết những điều anh không muốn viết. Đó là thứ văn cẩu thả, dễ dãi, rẻ tiền mà anh gọi là văn chương quấy loãng để rồi hình dung ra lúc người đọc chửi mình mà xấu hổ đỏ mặt, tự rủa mình là đồ khốn nạn, bất lương. Hộ nói: Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.

Chưa hết, Hộ còn rơi vào một bi kịch thứ hai cũng không kém phần đau đớn.vốn dĩ Hộ coi tình thương là nguyên tắc sống cao nhất, sẵn sàng hi sinh tất cả cho tình thương nhưng tại phải sống tàn nhẫn, thô bạo với vợ con, chà đạp lên nguyên tắc sống do mình đặt ra. Đọc tới đây người đọc muốn tìm hiểu tại sao mà lại có tấn bi kịch này,và cả hai bi kịch của anh đều phản ánh một mâu thuẫn của xã hội: người có tài, có tâm muốn sống đẹp, sống tốt thì lại phải khốn khổ.

 Anh quan niệm kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình. Bản chất anh là tốt. Vì thế anh đã cứu giúp Từ, một cô gái lỡ làng và cưới Từ làm vợ. Hộ đã cúi xuống nỗi đau khổ của Từ; thực hiện một hành vi như người ta làm việc nghĩa.

 Những đắng cay của đời đã đẩy hộ tới con đường của những con người thô bạo quen hành xử với người khác đầy độc và không chút suy nghĩ.. Bế tắc, anh tìm đến rượu để giải sầu,mỗi lần tỉnh rượu, Họ lại ân hận, xót xa. Anh xin lỗi vợ trong tiếng khóc nghẹn ngào: Anh chỉ là một thằng khốn nạn!

Xem thêm:  Dàn ý Phân tích bài thơ Thương vợ - Tế Xương

Muốn thoát li khỏi cảnh sống này, Hộ chỉ còn một cách là rũ bỏ trách nhiệm đối với gia đình, thoát li vợ con để rảnh rang theo đuổi giấc mộng văn chương. Nhưng vốn nhân hậu, Hộ không thể chấp nhận sự tàn nhẫn. Không có tình thương, con người chỉ là một thứ quái vật: Hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường..
Vì thế, anh không thể bỏ mặc vợ con để theo đuổi sự nghiệp văn chương. Anh đã hi sinh nghệ thuật để giữ lấy tình thương. Phải từ bỏ hoài bão lớn, anh âm thầm đau khổ nhất là khi gặp lại các bạn văn chương. Hộ thực sự lâm vào bế tắc.

Qua nhân vật Hộ tác giả Nam Cao xoáy sâu vào bi kịch của người trí thức, văn nghệ sĩ nghèo, từ đó kín đáo kết án cái xã hội ngột ngạt, thối nát đã tước đoạt giá trị con người, không cho con người được sống đàng hoàng, tử tế theo đúng nghĩa của nó. Hộ chính là hiện thân của họ, suy nghĩ và cách ma Hộ làm cũng giống họ làm… Họ vốn có ý thức cao về quyền sống, về đạo lí, thì đó là bi kịch tinh thần đau đớn nhất. Ý nghĩa nhân sinh của truyện ngắn Đời thừa là như thế.

 Nam Cao đã rất thành công trong thể hiện những giằng xé trong bi kịch của người trí thức lúc bấy giờ. Tác giả miêu tả tấn bi kịch của những người cầm bút trung thực. Qua nội dung tác phẩm, ông muốn nhấn mạnh vấn đề tài năng sáng tạo của nghệ sĩ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.

Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa – Bài làm 4

Trong làng văn học nước nhà trước cách mạng tháng tám, đã để lại biết bao cây bút với những tác phẩm để đời,nhưng trong số những cây bút đó nổi trội hơn cả đó là cây bút mang tên Nam Cao.Bằng ngòi bút đậm chất nhân văn, nhân đạo cao cả,ông đã viết lên tác phẩm “Đời Thừa”, khắc họa thành công những nhà tri thức đương thời.

Trong tác phẩm, Nam Cao đã khắc họa nhân vật Hộ nghèo nhưng anh lại có tình yêu văn chương tha thiết.Nhưng cuộc sống không cho phép sự nghiệp văn chương của Anh phát triển,mà anh đã phải giằng xé nội tâm giữa một bên là sự nghiệp văn chương và một bên là vợ trẻ con thơ. Đây cũng chính là tấn bi kịch của những nhà trí thức trước cách mạng tháng tám.

Hộ là một nhà văn có tinh thần trách nhiệm, anh mong muốn mang lại ánh sáng cho sự nghiệp văn chương của nước nhà,nhưng lại vì nỗi lo cơm áo gạo tiền mà anh không thể theo đuổi sự nghiệp văn chương của mình.Nhiều lần anh đã nghĩ tới việc từ bỏ những nỗi lo toan của cuộc sống đời thường để tiếp tục sự nghiệp văn chương nhưng anh không thể,nhưng anh không thể quay lưng lại với vợ con. Hộ muốn tỏa sáng với nghệ thuật nhưng cuộc sống đã ghì sát anh với những lo toan vụn vặt của cuộc sống.Chính vì thế nó đã khiến anh phải giằng xé nội tâm quyết liệt.

Trước hết “Đời Thừa” Nam Cao đã xây dựng nhân vật Hộ với tấn bi kịch về văn chương.Đối với anh nghệ thuật là tấ cả,là trên hết,nó quan trọng hơn tất những cái đời thường,kể cả đói rét cũng không có ý nghĩa gì đối với gã trẻ tuổi say mê nghệ thuật như Hộ.đối với Hộ cả đời anh chỉ ước mơ viết được một tác phẩm để đời,” làm mơ những tác phẩm ra cùng thời”.Khát khao của Hộ đó là anh phải giành được giải Nobel làm sáng danh rạng rỡ nước nhà.Đồng thời Hộ cũng có quan niệm văn chương rất đúng đắn,với anh sự cẩu thả trong văn chương thật là đê tiện.Đúng vậy “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo những khuôn mẫu cho sẵn “,mà “ văn chương cần khơi những nguồn chưa ai khơi,sáng tạo những gì chưa có”,quan niệm văn chương của anh thật đúng đắn và lớn lao.

Thế nhưng ước mơ đó,khát khát đó nào có thực hiện được,cuộc sống đâu phải lúc nào cũng như mình mong muốn,nó nghiệt ngã và phũ phàng hơn nhiều,nhất là trong hoàn cảnh trước cách mạng tháng tám, cuộc sống quá khó khăn,gò bó không cho phép con người sống theo ý mình,nó khiến con người ta rơi vào tình trạng bế tắc,khốn cùng,khiến người ta phải lựa chọn giữa cái thực tế cuộc sống và ước mơ cho tương lai.Đối với Hộ cũng thế,anh đã phải lựa chọn giữa sự nghiệp văn chưa và vợ con đang chờ anh biết bao thứ phải lo.Trước cuộc sống như thế,anh đã viết những gì,anh đã phản bội lại lý tưởng và ước mơ của của mình,anh đã “cho in những cuốn văn viết vội”và”gợi những tình cảm rất nhẹ,rất nông trên một thứ văn quá ư bằng phẳng và dễ dãi’,để rồi lúc anh ngồi đọc lại thì chính anh cũng không thể tin nổi đó là do anh viết,”nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối,nghệ thuật là tiếng kêu đau khổ từ những kiếp lầm than”,nó không phải là ánh sáng xanh huyền ảo,cũng không phải là cái gì đó quá xa xôi,mà nó chính là thực tế của cuộc sống hàng ngày.Hộ không mơ mộng về công danh,anh chỉ mong viết được tác phẩm để đời thế nhưng anh lại không làm được,”vì cơm áo không đùa với khách thơ”(Xuân Diệu).Làm sao anh có thể viết được khi trong đầu anh toàn những toan tính từ những chi tiêu nhỏ nhặt nhất trong gia đình anh,anh chỉ có thể cho ra đời những tác phẩm “rẻ như bèo”.

Bi kịch giấc mộng văn chương đã quá đau khổ,đẩy anh vào hoàn cảnh phải làm ngược với lý tưởng của mình,tuy nhiên anh lại thuận với gia đình cuộc sống thực tế.Chính những tác phẩm viết vội vã,không có trách nhiệm đó đã nuôi sống vợ con anh và cả chính anh trước hoàn cảnh sắp chết đói của gia đình anh.Có lẽ đây được coi là lý do duy nhất để anh không bị xem là “Đời Thừa”,anh đã cưu mang từ một cô gái đáng thương bị tình nhân ruồng bỏ với đứa con trẻ thơ mới sinh xong,đó chẳng phải là người có tình yêu thương yêu,người có tấm lòng cao cả hay sao. Dám vứt bỏ cả sự nghiệp hoài bão của mình để gánh trên vai nỗi lo cơm áo gạo tiền,những thứ mà trước kia anh không bao giờ nghĩ tới.Thế nhưng cũng chính anh viết đi chính phần người còn lại của anh,anh đã tìm đến rượu,lúc nào anh cũng say trong men rượu rồi về anh lại chửi vợ,nhưng những lúc tỉnh anh lại hối hận khi nhìn thấy Từ.Chính cái xã hội bất công và tàn nhẫn lúc bấy giờ đã đẩy anh tới mức “khốn nạn” của cuộc sống,là nguồn gốc của mọi sự đau khổ.

Nam Cao đã khắc họa một nhà văn đã phải chịu bao nhiêu nỗi đau của cuộc sống,của sự giằng xé nội tâm.Giữa một bên là sự nghiệp văn chương mà anh từng mơ ước rất nhiều và một bên là Từ,một người vợ đảm đang,ngoan hiền mà anh đã cưu mang.Đây cũng chính là hình ảnh những nhà trí thức của nước ta lúc bây giờ.Qua đây Nam Cao ca ngợi tình yêu thương,bảo vệ cho những kiếp sống đáng thương,lâm than đã phải đứng lên đấu tranh cho hạnh phúc của mình.Nam Cao đã làm đúng tư tưởng “Văn học là nhân học”,ông đã tôn lên vẻ đẹp qua những tác phẩm để đời của mình,đồng thời thay họ đứng lên lên đấu tranh về quyền sống,ước mơ cao đẹp.

Qua nhân vật Hộ trước tấn bi kịch của mình,Nam Cao  đã góp phần nào đó phản ánh cuộc sống hiện thực lúc bây giờ.Cái kết của Chí Phèo là cùng Thị Nở ở lò gạch nhưng không biết kết quả cuối cùng có Chí Phèo con ra đời hay không và cũng không ai biết sau tiếng nấc,tiếng khóc của Hộ thì cuộc sống của anh sau này có hạnh phúc hay không một cái kết mang đậm nét Nam Cao nhân văn, nhân đạo.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Phân tích nhân vật Hộ trong Đời Thừa thật hay và đạt được kết quả cao.

Post Comment