Văn mẫu lớp 9

Phân tích bài thơ viếng lăng bác

Phân tích bài thơ viếng lăng bác

Tổng hợp những bài làm văn Phân tích bài thơ viếng lăng bác hay nhất của các bạn học sinh giỏi văn đạt điểm cao. Mời các bạn đọc tham khảo và dựa vào đây viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ viếng lăng bác thật hay. Chúc các bạn luôn luôn học tập tốt.

Phân tích bài thơ viếng lăng bác – Bài làm 1

Viễn Phương là một trong những cây bút xuất hiện sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam. Thơ ông thường có giọng nhỏ nhẹ, chứa chan tình cảm và giàu chất mơ mộng. Sau khi đất nước thống nhất một năm, tháng 4-1976, Viễn Phương có dịp cùng đồng bào, chiến sĩ từ miền Nam ra Hà Nội thăm lăng Bác Hồ. Dịp này, từ những cảm xúc rất chân thực, ông sáng tác bài thơ nổi tiếng “Viếng Lăng Bác”. Bài thơ đã làm rung động hàng triệu trái tim vì chứa đựng cảm xúc dạt dào, niềm thương nhớ khôn nguôi và lòng kính yêu vô hạn đối với Bác Hồ, vì nỗi niềm của nhà thơ đã bắt gặp nỗi niềm chung của nhiều người.

Năm 1976 sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ này được sáng tác trong dịp đó và in trong tập thơ Như mây mùa xuân.

Dòng cảm xúc và tâm trạng của nhà thơ được diễn tả theo trình tự của cuộc viếng lăng Bác. Trong tâm tưởng của tác giả, Bác Hồ như đang sống, như thể Bác nhìn mọi người từ xa, nên tác giả thầm giới thiệu:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”

Câu thơ như chưa đựng một nỗi đau và một niềm tự hào. Tự hào “con ở miền Nam”, miền Nam gian khổ và anh hung, miền Nam thành đồng Tổ Quốc, miền Nam vừa chiến thắng vẻ vang… Nhớ lúc sinh thời Người nghĩ đến miền Nam, mong miền Nam được giải phóng. Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.

Thế mà miền Nam không được đón Bác vào thăm ngày vui đại thắng. Nay thì Bác đã ra đi, nỗi đau mất Bác lấy gì bù đắp? Cho nên ngay từ đầu, giọng thơ nghe sao mà xót tủi. Đến với Bác, dù ngay giữa lòng Hà Nội, mà cảnh vật sao giản dị,thân quen như trở về môt làng quê nào vậy:

“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát 

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam 

Bão tố mưa sa đứng thẳng hàng”

Không phải là đền đái tráng lệ, uy nghi mà chỉ là hàng tre giản dị quen thuộc, “hàng tre bát ngát”. Bát ngát của tre và bát ngát của sương, là những nét vẽ mờ tỏ, đậm nhạt, tạo nên vẻ đẹp lung linh như tranh thủy mặc, Từ hình tả thực ấy, tác giả liên tưởng khái quá nâng lên thành hình ảnh ẩn dụ “hàng tre xanh xanh Việt Nam”, một biểu tượng của dân tộc. Hai tiếng “xanh xanh”không chỉ gợi ý niệm về màu sác mà còn gợi lên sức sống bất diệt của dân tọc. Hàng tre ấy mang bao phẩm chất của con người Việt Nam: nhũn nhặn, thanh cao, dẻo dai, kiên cường, bất khuất,..dù “bão táp mưa sa” cũng “đứng thẳng hàng”. Dấu hiệu đầu tiên nơi Bác ở là một dấu hiệu Việt Nam vì Bác là con người Việt Nam đẹp nhất!

Nhà thơ hòa vào dòng ngừi xếp thành hàng, chầm chậm bước đi, chân bước mà lòng nghĩ:

“Ngày ngày Mặt Trời đi qua trên lăng 

Thấy một Mặt Trời trong lăng rất đỏ”

Mặt trời đi qua trên lăng Bác là Mặt Trời của tạo hóa, thiên nhiên đang tỏa ra ngàn tia nắng ấm. Còn mặt trời rất đỏ trong lăng là Bác Hồ vĩ đại. Bác được ví như vầng thái dương chói lọi, sưởi ấm cho muôn loài. Mặt trời ấy là tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng sáng ngời ấy như ánh mặt trời vĩnh hằng trên trái đất. Bởi vậy, Bác ra đi là sự mất mát lớn đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, mất mát lớn đối với toàn thể dân tộc ta. Bác để lại muôn vàn nhớ thương trong tâm khảm mỗi con người: 

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ 

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân. 

Không khí thương nhớ bao trùm theo nhịp thơ chầm chậm, âm điệu trầm trầm như bước chân người đi trong cuộc tưởng niệm. Nhưng không phải là cuộc tưởng niệm bình thường mà ca ngợi vinh quang của Bác. Và tràng hoa tưởng niệm cũng khôn phải bình thuoengf mà nó được kêt bằng hàng triệu tấm lòng để dâng lên Bác dâng lên “bảy mươi chin mùa xuân”.

Ta lại theo chân nhà thơ vào lăng Bác. Đây là giây phút thiêng liêng và xúc động nhất vì được nhìn thấy:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.

Với nỗi đau đớn, xúc động nghẹn ngào. Nhà thơ không muốn chấp nhận sự thật: Bác đã mất! Mà tưởng tượng “Bác chỉ “nằm  trong giấc ngủ bình yên” sau một cuộc dời vất vả, hi sinh vì dân vì nước chưa hề được nghỉ ngơi. Giấc ngủ của Bác bình yên giữa một vùng ánh sáng nhè nhẹ “dịu hiền” được miêu tả như một “vầng trăng”. Con người tha thiết yêu trăng mà chưa bao giờ được bình yên để ngắm ấy bây giờ đã đưuọc yên nghĩ cùng trăng.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Con cò của nhà thơ Chế Lan Viên

Nhưng sự thật vẫn là sự thật, lý trí đã nhắc nhà thơ: Bác mất thật rồi! cho nên cảm xúc dâng trào đã bật thành lời:

“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim”

Ở đây có sự hòa quyện giữa hai cảm xúc: cảm xúc vè sự bất tử, trường tồn của Bác, cảm xúc về nỗi đau và nỗi nhớ Bác khôn nguôi. Bác là mãi mãi như bầu trời xanh bất diệt, vĩnh viễn ở trên đầu và ở trong tâm tưởng của mỗi người, vĩnh viễn với non sông đất nước. Nhưng Bác mất thật rồi, không còn thấy Bác trong cuộc đời này nữa. Cái thiếu vắng âuý lấy gì bù đắp được? tiếng “nhói” vút cao lên nói hộ ta bao nỗi đau đớn xót xa. Đó là niềm xót ca, làm rung cảm rất chân thật của bất cứ ai vào lăng viếng Bác.

Xót xa, lưu luyến mấy rồi cũng phải chia tay. Bác nằm lại với “giấc ngủ bình yên”, mỗi người lại phải chia xa:

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”

Câu thơ như vẻ tiếc nuối, nghẹn ngào, xót xa. Một tiếng “thương”, một hình ảnh “trào nước mắt” là trọn vẹn tình cảm của nhân dân miền Nam đối với Bác. Đó là niềm kính yêu, lòng kính trọng biết ơn đối với con người cao thượng và vĩ đại dành trọn cuộc đời mình cho dân cho nước. Đó là nỗi xót đau người đã để lại cho con cháu, đành phải giã biệt Bác. Thương Bác Bác nhưng không xa rời sự nghiệp mà người đã để lại cho con cháu, đành phải giã biệt Bác. Chân bước ra đi mà lòng còn lưu luyến. Nỗi niềm đó còn được diễn đạt trong mấy câu thơ giàu hình ảnh:

“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Về cuối bài, nhịp điệu câu thơ trở nên dồn dập với điệp ngữ “muốn làm” nhắc lại đến ba lần nhấn mạnh ước nguyện sâu sắc, chân thành của tác giả. Và hàng loạt honfh ảnh ẩn dụ cụ thể hóa ước nguyện đó: con chim dâng tiếng hót vui, bông hoa dâng hương thơm ngát, cây tre trung hiếu canh giữ cho giấc ngủ yên bình của Bác. Tất cả đều bên lăng. Tất cả đều nói lên tấm lòng kính yêu vô hạn của tác giả và cũng là của nhân dân đối với Bác.

Bài thơ đã được cố nhạc sĩ Hoàng Hieehp phổ nhack và trở thành bài hát được nhiều người yêu thích. Sở dĩ vậy bởi vì bài thơ đã giàu tính nhạc: giọng điệu thiết tha thầm lặng, trang nghiêm và thành kính, nhịp thơ chậm. qua đó nhà thơ bộc lộ cảm xúc tràn đầy, những tình cảm lớn lao thiêng liêng của mình và cũng là của nhân dân đối với Bác Hồ, đồng thời ca ngợi vinh quang của Bác. Tình cảm đối với Bác là tình cảm cao cả, nâng cao tâm hồn con người. với những giá trị đó, “Viếng lăng Bác” là một đóng góp quý báu vào kho tang thơ ca viết về Hồ Chủ tịch, vĩ lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của dân tộc.

Phân tích bài thơ viếng lăng bác – Bài làm 2

Mỗi tác giả đều có những xúc cảm riêng khi viết về Hồ Chí Minh, là xót xa, nuối tiếc, tự hào, ngưỡng mộ cho một đời người vì dân, vì nước. Nhà thơ Viễn Phương lần đầu tiên từ miền Nam ra thăm lăng Bác cũng đã giật mình nhận ra có những thay đổi trong chính cảm xúc của mình khi nhìn thấy Bác đang ngủ yên lành. Bài thơ “Viếng lăng Bác” là long thành kính, ngưỡng mộ, biết ơn của nhà thơ dành cho vị lãnh tụ vĩ đại.

Năm 1976, đất nước thống nhất, lăng chủ tịch Hồ CHí Minh được khánh thành; tác giả theo đoàn từ Nam ra viếng lăng Bác. Cảm xúc của một người con lần đầu tiên ra thăm lăng Bác thực sự dồn nén trong trái tim của tác giả. Bài thơ như một lời tri ân, long thành kính của một đứa con phương xa được trở về thăm người. Có lẽ những câu thơ này như nói hộ tấm long của rất nhiều người, rất nhiều con dân Việt Nam được ra thăm lăng Bác.

Xuyên suốt bài thơ chính là mạch cảm xúc rung rung, xúc động, không kìm nổi long mình khi đứng trước một người anh hùng dân tộc. Bài thơ được mở đầu như một tiếng reo vui:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Một tiếng reo vui nhẹ nhàng, một tiếng “con” chân thành và sâu sắc của một người con từ phương xa. Câu thơ trở nên mềm mại, cuốn hút, chan chứa tình cảm. Một hành trình từ miền Nam ra tận miền Bắc để chỉ được nhìn ngắm Hồ CHí Minh một lần. Mặc dù Bác Hồ đã không còn nữa nhưng nhà thơ không dung từ “viếng” mà lại dùng từ “thăm” rất nhẹ nhàng, tình cảm. Điều này cho thấy rằng mặc dù Hồ CHí Minh là vị lãnh tụ nhưng lại rất gần gũi, thân thiết với nhân dân. Người đọc cảm nhận được rằng dường như Bác Hồ vẫn còn sống mãi, chỉ là Bác đang ngủ một giấc ngủ thật lâu,thật dài.

Xem thêm:  Hướng dẫn làm bài Hãy nêu suy nghĩ của em về một vấn đề đang gây bức xúc trong xã hội: gian lận trong thi cử – Tập làm văn 9

Khung cảnh hiện ra trước mắt khi nhà thơ đến đây là hàng tre “bát ngát”. Tre là hình ảnh thân thuộc, gần gũi với đất nước Việt Nam,biểu tượng cho sự dẻo dai, kiên cường, tinh thần không khuất phục của cả dân tộc ta. Mặc dù bão táp mưa sa nhưng hàng tre vẫn kiên cường, hiên ngang và bất khuất như chính tinh thần quật cường của dân tộc ta

Viễn Phương mang một trái tim yêu thương và ngưỡng mộ với chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã mượn hình ảnh “mặt trời” biểu tượng cho Bác Hồ vĩ đại, luôn sống mãi với đất nước

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Rõ ràng hình ảnh “mặt trời” ở hai câu thơ hoàn toàn có ý nghĩa khác nhau. Một mặt trời thực cử thiên nhiên, một mặt trời mang giá trị ẩn dụ, tượng trưng cho người cha già dân tộc. Phép ẩn dụ này đã làm tăng lên tính biểu cảm, phần nào làm sắc nét hơn tình cảm thương yê, trân trọng mà Viễn Phương dành cho người. Mặt trời luôn tồn tại để soi sáng nhân gian cũng như Hô Chí Minh còn sống mãi trong lòng dân.

Hòa vào dòng người viếng thăm Bác, Viễn Phương xúc động nghẹn ngào:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

Đời người hữu hạn, thời gian vô hạn. Sự ra đi của Người để lại muôn vàn tiếc thương cho dân tộc. Niềm thương nhớ ấy kết thành nhưng “tràng hoa” dâng Người. “Bảy mươi chín mùa xuân” chính là bảy mươi chín năm Người sống và cống hiến cho dân tộc. Hồ Chí Minh chính là mùa xuân lớn của đất nước ta, cho những kiếp người lầm than trong xã hội.

Tác giả được nhìn ngắm Bác Hồ, có một niềm xúc động sâu sắc:

Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng trong dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim

Bác vẫn nằm đây, giữa thủ đô đầy nắng, giữa hàng triệu trái tim của dân tộc đang hướng về Người. Nét ‘dịu hiền” trên khuôn mặt người chính là tượng trưng cho những gì cao đẹp, thanh khiết nhất của một cuộc đời. Dù nỗi đau còn đó, mất mát còn đó nhưng đất nước luôn nhớ đến người.

Có lẽ khổ thơ cuối cùng người đọc sẽ bần thần trước lời nguyện ước của Viễn Phương:

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

Những vẫn thơ chân chất, bình dị này khiến cho người đọc “trào nước mắt”. Giây phút tác giả sắp rời xa Người trở về với miền Nam là giây phút ngưng lại nhiều cảm xúc nhất. Điệp từ “muốn” dường như nhấn mạnh hơn nữa khát khao, ước vọng của tác giả được ở cạnh Bác Hồ. Những ước muốn bình dị, mộc mạc nhưng chan chứa tình cảm.

Thật vậy, bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương khiến người đọc không cầm được nước mắt vì tình cảm của một người con dành cho Bác. Qua đó thấy được vị trí của Bác Hồ trong lòng dân quan trọng như thế nào.

Phân tích bài thơ viếng lăng bác – Bài làm 3

“Bác Hồ, Người là tinh yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt một đời vì nước, vì dân hi sinh thân mình. Biết bao nhiêu ngòi bút viết hết được cuộc đời, sự nghiệp của vị lãnh tụ vĩ đại? Sự ra đi của Người là một niềm tiếc thương vô hạn trong triệu triệu trái tim người Việt Nam. “Viếng lăng Bác” là một trong những bài thơ hay của Viễn Phương viết về tình cảm của ông cũng như bao chiến sĩ, nhân dân miền Nam chưa được gặp Bác Hồ trước lúc người ra đi mãi mãi.

Mở đầu bài thơ là tiếng lòng tha thiết của một người con từ miền Nam ra Bắc vào lăng viếng Bác:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát”

Đọc câu thơ đầu tiên, người đọc cảm nhận được một sự trào dâng xúc động dường như đã được dồn nén bấy lâu của nhà thơ. Đó là tình cảm rất đỗi chân thành của một người con miền nam đối với vị cha già của dân tộc. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng máu thịt. Trong giây phút xúc động ngẹn ngào ấy, hình ảnh “hàng tre bát ngát” trong sương sớm hiện lên thật đẹp khiến nhà thơ phải thốt lên:

“Ôi hàng tre, xanh xanh Việt Nam

Giông tố mưa sa đứng thẳng hàng”

Hàng tre đã “bát ngát” lại còn “xanh xanh”. Nhà thơ đã rất khéo léo khi sử dụng cặp từ láy này, khiến cho hàng tre như hiện lên trước mắt người đọc có một màu xanh ngắt, trải dài bất tận trước một không gian quảng trường rộng lớn. Hàng tre xanh ấy vẫn luôn hiên ngang “đứng thẳng hàng” trước bao “giông tố mưa sa”. Tre hiện lên trong bài thơ cũng giống như hình ảnh con người Việt Nam anh hùng bất khuất vậy. Dù có gặp bao khó khăn, hiểm nguy, gian khó, con người Việt Nam vẫn hăng say lao động, hiên ngang, yêu nước và sẵn sàng chiến đấu quên mình để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Hình ảnh tre bước vào thơ Việt Nam nhiều lắm. Và hầu như ở đâu, tre cũng là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của nhân dân đất Việt. Trong “Tre Việt Nam” của nhà văn Thép Mới cũng vậy “Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng đại bác, tre giữ làng, giữ n­ước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”.

Xem thêm:  Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây tre Việt Nam

Nguồn cảm hứng của nhà thơ trào dâng mãnh liệt hơn, ông liên tưởng hình ảnh Bác như mặt trời vĩ đại:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

Với niềm tiếc thương vô hạn và biết ơn sâu sắc, đứng giữa quảng trường Ba Đình, nhà thơ thấy một mặt trời đi qua trên lăng, đó là mặt trời của thiên nhiên. Còn nhìn vào bên trong lăng, vẫn có một mặt trời đỏ rực là trái tim Bác Hồ. Trái tim ấy đã dành trọn một đời cho cuộc cách mạng dân tộc, yêu nước thương dân. Hình ảnh ẩn dụ “mặt trời trong lăng” thật đẹp. Bởi trái đất này làm sao có thể tổn tại nếu không có mặt trời. Nó cũng giống như đất nước Việt Nam nhờ có Bác mới có cuộc sống độc lập tự do như ngày hôm nay. Bác đem lại cho nhân dân, cho đất nước một cuộc sống mới hạnh phúc, tự do. Điệp từ “ngày ngày” được lặp lại hai lần như nhắc nhở rằng, mặt trời của thiên nhiên luôn luôn sáng lên mỗi ngày theo một quy luật thì tình cảm của con dân Việt Nam dành cho Bác cũng trường tồn mãi mãi. Dòng người hàng ngày vẫn xếp hàng vào lăng được nhà thơ liên tưởng đến “tràng hoa” thành kính dâng lên viếng Bác. Đó thực sự là một hình ảnh ẩn dụ so sánh đặc sắc. Nhà thơ không nói Bác bảy mươi chín tuổi, mà thay vào đó ông nói “bảy mươi chín mùa xuân”. Cách ví von so ánh giàu sức gợi, bởi lẽ bảy mươi chín năm qua của Người hi sinh cho dân tộc Việt Nam, bảy mươi chín năm của Người là bảy mươi chín mùa xuân mang đến những bông hoa đẹp đẽ, tỏa ngát hương thơm và rực rỡ nhất.

Sau bảy mươi chín năm “trọn một đời Bác có ngủ yên đâu” thì giờ Người được nằm trong lăng với giấc ngủ bình yên:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim.”

Nhà thơ Viễn Phương đã mượn “vầng trăng sáng dịu hiền” để canh giấc cho Bác được “ngủ bình yên”. Hình ảnh vầng trăng sáng thật đẹp đẽ, và chỉ có vầng trăng sáng kia mới có để xứng tầm với một Người có nhân cách vĩ đại như chủ tịch Hồ Chí Minh. Lặng nhìn giấc ngủ bình yên nơi di hài Bác, nhà thơ vẫn không sao kìm nén được niềm xúc động, nỗi đau khi nhìn về sự thật rằng Người đã ra đi. Nhà thơ dùng hình ảnh “ trời xanh là mãi mãi” một cách tinh tế để kìm nén lại sự mất mát lớn lao này nhưng vẫn thấy “nhói ở trong tim”. Cụm từ “nhói ở trong tim” nghe thật xót xa, nó như một mũi kim đâm vào trái tim tác giả gây đau đớn. Nỗi đau ấy nó âm thầm nhưng thể hiện sự tiếc nuối vô hạn đối với vị lãnh tụ, vị cha già kính yêu.

Từ sự tiếc nuối, đau đớn vô hạn trước sự ra đi của Hồ chủ tịch, nhà thơ không thể kìm nén nổi nỗi đau trong tim mình nữa mà bỗng òa lên:

“Mai về miền nam thương trào nước mắt

Mai về miền nam nhớ Bác khôn nguôi

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.”

Nhà thơ tưởng tượng trở về miền nam sau ngày vào lăng viếng Bác, tình yêu và nỗi đau của nhà thơ vẫn đau đáu, xót xa đến “tuôn trào nước mắt”, “nhớ Bác khôn nguôi”. Nỗi đau ấy đã biến thành những mong ước thật nhỏ nhoi của nhà thơ “muốn làm con chim” “muốn làm đóa hoa” “muốn làm cây tre” để hàng ngày ở trên lăng được gần Bác hơn, được hót cho Bác nghe mỗi sớm mai, được tỏa hương thơm ngát. Điệp từ “muốn làm” được lặp lại ba lần như muốn nhấn mạnh tình cảm sâu nặng, kính yêu của nhà thơ cũng như tấm lòng son sắt, thủy chung của triệu triệu đồng bào miền nam đối với Bác Hồ kính yêu.

Bài thơ “viếng lăng Bác” của Viễn Phương đã thể hiện nỗi xót xa, sự kính yêu cùng tình cảm dồn nén bây lâu của người con miền nam về lăng viếng Bác. Đọc bài thơ, người đọc như được theo chân nhà thơ vào lăng viếng Bác. Đúng như ai đó đã từng nhận xét, bài thơ là “một nén hương trầm thơm ngát thành kính dâng lên Bác”, để lại trong trái tim người đọc nhiều dư vang sâu lắng.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Phân tích bài thơ viếng lăng bác hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ viếng lăng bác thật hay và đạt được kết quả cao.

Từ khóa tìm kiếm:

  • phân tích bài thơ viếng lăng bác
  • Viếng lăng bác

Post Comment