Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ tự tình 2

Phân tích bài thơ tự tình 2

Tổng hợp những bài làm văn Phân tích bài thơ tự tình 2 hay nhất của các bạn học sinh giỏi văn đạt điểm cao. Mời các bạn đọc tham khảo và dựa vào đây viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ tự tình 2 thật hay. Chúc các bạn luôn luôn học tập tốt.

Phân tích bài thơ tự tình 2 – Bài làm 1

Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài ba ở nước ta vào cuối thế kỉ XVIII — đầu thế kỉ XIX. Ngoài tập "Lưu Hương kí" bà còn để lại khoảng 50 bài thơ Nôm, phần lớn là thơ đa nghĩa, vừa có nghĩa thanh vừa có nghĩa tục. Một số bài thơ trữ tình đằm thắm, thiết tha, buồn tủi… thể hiện sâu sắc thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, với bao khao khát sống và hạnh phúc tình duyên. Chùm thơ "Tự tình" phản ánh tâm tư tình cảm của Hồ Xuân Hương, của một người phụ nữ lỡ thì quá lứa, duyên phận hẩm hiu,… Bài thơi này là bài thứ hai trong chùm thơ Tự tình" ba bài.

Thi sĩ Xuân Diêu trong bài "Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm" đã viết: "Bộ ba bài thơ trữ tình này cùng với bài "Khóc vua Quang Trung" của công chúa Ngọc Hân làmị một khóm riêng biệt, làm tiếng lòng chân thật của người đàn bà tự nói về tình cảm bản thân của đời mình trong văn học cổ điển Việt Nam…" Ông lại nhận xét thêm về đỉệ thơ, giọng thơ: "…trong bộ ba bài thơ tâm tình này, bên cạnh bài thơ vẩn "ênh hẻ nênh và bài thơ vần "om" oán hận, thì bài thơ vần "on" này mong đợi, chon von".

"Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tĩnh,

Vầng trăng bống xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!".

Hai trong ba bài thơ, nữ sĩ đều nói về đêm khuya, canh khuya. "Tự tình" bà vi "Tiếng gà vãng vẳng gáy trên bom – Oán hận trông ra khắp mọi chòm". Ở bài thơ này cũng vậy, bà tỉnh dậy lúc canh khuya, hay thao thức suốt đêm khuya, tâm trạng ngổn gang phiền muộn. Âm thanh "văng vẳng" của tiếng trống từ một chòi canh xa đưa lại như thúc giục thời gian trôi nhanh, tuổi đời người đàn bà trôi nhanh: "Canh khuya văng vẳng trống canh dồn". "Hồng nhan" là sắc mặt hồng, chỉ người phụ nữ. "Trơ" nghĩa là lì ra, trơ ra, chai đi, mất hết cảm giác. "Nước non": chỉ cả thế giới tự nhiên và xã hội.

Câu thơ: "Trơ cái hồng nhan với nước non" nói lên một tâm trạng: con người đau buồn nhiều nỗi, nay nét mặt thành ra trơ đi trước cảnh vật, trước cuộc đời, tựa như gỗ đá, mất hết cảm giác. Nỗi đau buồn đã đến cực độ. Từ "cái" gắn liền với chữ "hồng nhan" làm cho giọng thơ trĩu xuống, làm nổi bật cái thân phận, cái duyên phận, cái duyên số đã quá hẩm hiu rồi. Ta có cảm giác tiếng trống dồn canh khuya, thời gian như cơn gió lướt qua cuộc đời, lướt qua số phận và thân xác nhà thơ. Con người đang than thân trách phận ấy đã có một thời son trẻ tự hào: "Thân em vừa trắng lại vừa tròn", có phẩm hạnh một "tấm lòng son" trọn vẹn, lại tài năng, thế mà nay đang trải qua những đêm dài cay đắng. Qua đó, ta thấy cái xã hội phong kiến buổi ấy chính là tác nhân đã làm xơ xác, khô héo phận hồng nhan.

Đằng sau hai câu đề là những tiếng thở dài ngao ngán. Cố vẫy vùng để thoát ra, bươn ra khỏi cái nghịch cảnh nhưng đâu dễ! Tiếp theo là hai câu thực:

"Chén rượu hương đưa say lợi tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn".

Nghệ thuật đối rất thần tình: "Chén rượu" với "vầng trăng", trên thì "hương đưa", dưới lại có "bóng xế", đặc biệt ba chữ "say lại tỉnh" vời "khuyết chưa tròn" đăng đối, hô ứng nhau làm nổi bật bi kịch về thân phận người đàn bà dang dở, cô đơn. Muốn mượn chén rượu để khuây khoả lòng mình, nhưng vừa nâng chén rượu lên môi mùi hương phả vào mặt, đưa vào mũi. Tưởng uống rượu cho say để quên đi bao nỗi buồn, nhưng càng uống càng tỉnh. "Say lại tỉnh" để rồi tỉnh lại say, cái vòng luẩn quẩn ấy về duyên phận của nhiều phụ nữ đương thời, trong đó có Hồ Xuân Hương như một oan trái. Buồn tủi cho thân phận, bao đêm dài thao thức đợi chờ, nhưng tuổi đời ngày một "bóng xể". Bao hi vọng đợi chờ. Đến bao giờ vầng trăng mới "tròn"? Đến bao giờ hạnh phúc đến trong tám tay, được trọn vẹn, đầy đủ? Sự chờ mong gắn liển với nỗi niềm khao khát. Càng cô đơn càng chờ mong, càng chờ mong càng đau buồn, đó là bi kịch của những người đàn bà quá lứa lỡ thì, tình duyên ngang trái, trong đó có Hồ Xuân Hương.

Hai câu trong phần luận, tác giả lấy cảnh để ngụ tình. Đây là hai câu thơ tả cảnh "lạ lùng" được viết ra giữa đêm khuya trong một tâm trạng chán ngán, buồn tủi:

"Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn".

Ý thơ cấu trúc tương phản để làm nổi bật cái dữ dội, cái quyết liệt của sự phản kháng. Từng đám rêu mềm yếu thế mà cũng "xiên ngang mặt đất" được! Chỉ có rải rác "đá mấy hòn" mà cũng có thể "đâm toạc chân mây" thì thật kì lạ! Hai câu thơ, trước hết cho ta thấy thiên nhiên tiềm ẩn một sức sống đang bị nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng. Thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương không chỉ mang màu sắc, đường nét, hình khối mà còn có gương mạt, có thái độ, có hành động, cũng "xiên ngang…", cũng "đâm toạc"… mọi trở ngại, thế lực. Xuân Hương vốn tự tin và yêu đời. Con người ấy đang trải qua nhiều bi kịch vẫn cố gắng gượng với đời. Phản ứng mạnh mẽ, dữ dội nhưng thực tại vẫn chua xót. Đêm đã về khuya, giữa cái thiên nhiên dào dạt, bốn bề mịt mùng bao la ấy, người đàn bà hẩm hiu càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Chẳng thế mà trong bài "Tự tình", nữ sĩ đã buồn tủi viết:

Xem thêm:  Cảm nhận về bài thơ Chiều tối

"Mõ thảm không khua mà cũng cốc,

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?".

Cả nỗi đau trần thế như dồn tụ lại đáy lòng một người đàn bà cô đơn. Khao khát được sống trong hạnh phúc, được làm vợ, làm mẹ như mọi người đàn bà khác. Nhưng "hồng nhan bạc mệnh"! Đêm càng về khuya, người đàn bà không thể nào chợp mắt được, trằn trọc, buồn tủi, thân đơn chiếc, thiếu thốn yêu thương, xuân đi rồi xuân trở về, mà tình yêu chỉ được "san sẻ tí con con", phải cam chịu cảnh ngộ:

"Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con".

Xuân đi qua, xuân trở lại, nhưng với người phụ nữ thì "mỗi năm mỗi tuổi như đuổi xuân đi"… Chữ "ngán" nói lên nỗi đau, nỗi buồn tủi của người đàn bà lỡ thì quá lứa, đang trải qua sự mòn mỏi, đợi chờ. Tình duyên, tình yêu như bị tan vỡ, tan nát thành nhiều "mảnh", thế mà chua chát thay chỉ được "san sẻ tí con con". Câu thơ là tiếng than thân trách phận. Phải chăng đây là lần thứ hai Hồ Xuân Hương chịu cảnh làm lẽ? Tinh đã vỡ ra thành "mảnh" lại còn bị "san sẻ", đã "tí" lại "con con". Mỗi chữ như rưng rưng những giọt khóc. Câu thơ này, tâm trạng này được nữ sĩ nói rõ thêm trọng bài "Lấy chồng chung":

"Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,

Năm thì mười hoạ hay chăng chớ,

Môt tháng đôi lẩn có cũng không!.".

Tóm lại, "Tự tình" là lời tự than, tự thương xót, buồn tủi cho duyên số, duyên phận hẩm hiu của mình. Càng thao thức cô đơn, càng buồn tủi. Càng buồn tủi, càng khao khát được sống trong hạnh phúc trọn vẹn, đầy đủ. Thực tại nặng nề, cay đắng bủa vây, khiến cái hồng nhan phơi ra, "trơ" ra với nước non, với cuộc đời. Người đọc vô cùng cảm thông với nỗi lòng khao khát sống, khao khát hạnh phúc của nữ sĩ và người phụ nữ trong xã hội cũ. Giá trị nhân bản là nội dung sâu sắc nhất của chùm thơ lự tình" của Hồ Xuân Hương.

Cách dùng từ rất đặc sắc, độc đáo thể hiện phong cách nghệ thuật Hồ Xuân Hương: "trơ cái hồng nhan", "say lại tỉnh", "khuyết chưa tròn", "xiên ngang", "đâm toạc", "ngán nỗi", "lại lại", "tí con con",… Chữ dùng sắc nhọn, cảnh ngụ tinh, diễn tả mọi đau khổ bi kịch về duyên số. Qua bài thơ này, ta càng thấy rõ Hồ Xuân Hương đã đưa ngôn ngữ dân gian, tiếng nói đời thường vào lời ca, bình dị hoá và Việt hoá thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bà xứng đáng là "Bà chúa thơ Nôm" của nền thi ca dân tộc.

Phân tích bài thơ tự tình 2 – Bài làm 2

Trong hệ thống những bài thơ mang chứa tâm sự của Hồ Xuân Hương, “Tự tình” là một trong những bài thơ hay nhất. Bài thơ thể hiện nỗi buồn, nỗi cô đơn thấm thía của người yêu đời, tràn đầy sức sống nhưng gặp cảnh ngộ éo le, một con người luôn khao khát tình yêu nhưng chỉ gặp toàn dang dở, bất hạnh. Đó còn là sự bất hạnh của một mơ ước không thành.

Sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy sóng gió (nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX), Hồ Xuân Hương là người chứng kiến và phần nào chịu ảnh hưởng cái không khí sôi sục của phong trào quần chúng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người. Không khí ấy tác động đến tâm hồn vốn thông minh và giàu lòng trắc ẩn của bà. Bà uy nghiêm, thức tỉnh, trăn trở về đời mình, một cuộc đời lắm éo le, bạc phận: Lấy chồng hai lần, hai lần làm lẽ và hai lần chồng đều chết sớm. Điều đó, với bà là những biểu hiện cụ thể, đầy nước mắt của nỗi đau “hồng nhan bạc phận”. Mở đầu bài thơ "Tự tình", tác giả gợi ra một khoảng thời gian, một góc không gian xao xác tiếng gà. Đây là một thứ không gian, thời gian nghệ thuật được vận dụng làm nền cho sự thổ lộ tâm trạng tác giả: "Cảnh khuya văng vẳng trống canh dồn". "Văng vẳng” chính là từ tượng thanh nhưng ở đây nó vừa biểu thị tâm trạng, không khí, cái không khí buồn vắng lặng của một người thao thức giữa đêm khuya thanh vắng. Câu thứ hai nhức nhối một tâm sự:

“Trơ cái hồng nhan với nước non”

Hay nhất của câu thơ thứ hai là từ “trơ”. Trơ là trơ trọi, cô đơn, lẻ loi. Nhà thơ cảm nhận nỗi buồn hồng nhan. Một nỗi buồn “cụ thể” càng kinh khủng hơn khi cọ xát với toàn xã hội, toàn cuộc đời: “nước non”. Một nỗi buồn đè nặng lên tâm sự bà, lên số phận của người phụ nữ. Không chịu đựng nổi, bà muốn chống lại, thoát khỏi. “Chén rượu hương đưa" là một phương tiện. Không phải phương tiện duy nhất nhưng hầu như là cuối cùng cho một đè nén quá mức. Thế nhưng, bi kịch vẫn cứ là bi kịch:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh”.

Câu thơ nữ sĩ gợi nhớ một câu thơ đầy trầm tư của Lí Bạch:

“Dùng gươm chém nước, nước chẳng dứt

Uống rượu tiêu sầu, sầu vẫn sầu”

Bất lực, câu thơ chuyển sang một sự cám cảnh sinh tình. Hồ Xuân Hương nói:

“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Trong quan điểm thẩm mĩ xưa, vầng trăng tượng trưng cho cuộc đời, tuổi tác của người phụ nữ. Câu "Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn" vừa là một hình ảnh đẹp, có thực nhưng đượm buồn. Cái buồn của một “vằng trăng khuyết”. Đối với thơ xưa, cảnh là tình, cảnh trăng khuyết man mác, gợi nhớ cuộc đời bà. Trong “mời trầu " bà đã ẩn ý suy nghĩ như vậy.

Xem thêm:  Bình luận về câu nói Học học nữa học mãi

Sang câu 5, 6 tứ thơ như đột ngột chuyển biến. Sự cụ thể trong miêu tả khiến việc tả cảnh trở nên thuần khiết. Một cảnh thực hoàn toàn:

"Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá mấy hồn”

Nghê thuật đảo ngữ và đối tạo nên sự sinh động và cảnh đầy sức sống. Một sức sống nhờ tài quan sát của bà như quẫy đạp, cựa mình. Cảnh này chỉ có thể là cảnh của "Bà chúa thơ nôm" chứ không phải của ai khác. Rõ ràng, dẫu đang rất buồn, rất cô đơn nhưng điều đó vẫn không suy giảm chất riêng của Hồ Xuân Hương. Bản lĩnh, sức sống mãnh liệt, sự khao khát với cuộc đời khiến cho dù lòng đầy cám cảnh bà vẫn nhìn cảnh vật với con mắt yêu đời, tha thiết, chứa chan sức sống. Đó là sự lí giải về những phản kháng, đối nghịch trong bản chất bà, tạo nên những vần thơ châm biếm đối lập. Vũ khí ấy hơn hẳn chén rượu “say rồi tỉnh”. Đó là phương tiện kì diệu nâng đỡ tâm hồn bà. Chỉ như thế mới có thể hiểu tâm trạng, tiếng thở dài của Hồ Xuân Hương, ở hai câu thơ kết:

“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!”.

Yêu đời là thế, sức sống mãnh liệt là thế mà cuộc đời riêng thì vẫn: “Xuân đi xuân lại lại. ”, điệp từ chỉ cái vòng luẩn quẩn đáng ghét, vô vị của ngày tháng, cuộc đời. Điều này khiến bà không tránh khỏi một tiếng thở dài chua xót. Càng chua xót hơn khi giữa cái tuần hoàn thời gian ấy là một “mảnh tình” đang bị san đi, sẻ lại… chia xới. Đối với trái tim thiết tha với đời kia, điều đó như một vết thương, nhức nhối.

Người ta nói rằng thơ là tâm trạng, là một bức thông điệp thẩm mĩ. Đọc “Tự tình”, là thấu hiểu được tâm sự ẩn chứa bi kịch của Hồ Xuân Hương. Là một nhân cách luôn khao khát hạnh phúc, là một tâm hồn tràn đầy sức sống, yêu đời lại bắt gặp toàn những dở dang, bất hạnh, điều đó tạo nên trong thơ bà có khi là một tiếng thở dài. Một tiếng thở dài đáng quý của một người có hoài bão nhưng không thể thực hiện được, trách nhiệm là ở phía xã hội phong kiến, một xã hội mà hạnh phúc riêng đã đối lập thật gay gắt với cơ cấu xã hội chung. Trong chiều hướng ấy, “Tự tình" là một bài thơ đòi quyền hạnh phúc, một lời phản kháng độc đáo lại chứa chan tiếng nói bênh vực của người phụ nữ, tạo được sự thấu hiểu, đồng cảm với những cảnh ngộ éo le, trắc trở.

Phân tích bài thơ tự tình 2 – Bài làm 3

Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ hiếm hoi nổi bật có tiếng của nền văn học trung đại Việt Nam. Bà có ảnh hưởng không hề nhỏ đối với văn chương sau này: Nét phóng túng và tiềm ẩn trong thơ của Hồ Xuân Hương luôn gây nguồn cảm hứng vô tận cho hậu thế. Xuân Diệu từng nói: “ Trong văn học dân tộc Việt Nam trước cách mạng ít có tác giả nào mà đời mình lại gắn liền với tác phẩm khăng khít như Hồ Xuân Hương”. Lời thơ của bà là tiếng cười nhọn, cười sắc, cười gần về cái xã hội đầy rẫy bất công đối với người phụ nữ. Thân phận lẽ với trái tim luôn khát khao hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội xưa đã trở thành nguồn cảm hứng của thi sĩ. Tiêu biểu là Tự tình II nằm trong chùm thơ Tự tình của bà.

Mở đầu bài thơ Hồ Xuân Hương viết:

 “ Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Những nhà thơ lớn xưa nay đều là những nhà thơ cảm thức về thời gian. Trong bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương thì có tới hai bài thơ thể hiện cảm nhận về thời gian làm nền cho tâm trạng. Có thể nói, thời gian là thể lực nghịch đối với cuộc sống của con người. Thông thường, giữa không gian rợn ngợp, con người sẽ cảm thấy mình thật nhỏ bé vì cô đơn. Nhưng đối với Hồ Xuân Hương lại ngược lại, nhà thơ lại cảm nhận được sự cô đơn trước thời gian. Nhắm mắt lại suy nghĩ về cuộc đời, từng nhịp thở của người phụ nữ trong đêm khuya thanh vắng, tĩnh lặng bỗng thấy “văng vẳng” từ xa vọng lại của tiêng trống cầm canh khắc khoải mong ngóng một điều gì đó. Nhưng càng mong lại càng không thấy, lại mang nỗi thất vọng. Âm thanh ấy không chỉ là bước đi của thời gian mà còn thể hiện nỗi chờ mong khắc khoải, đầy lo âu và tuyệt vọng của người đàn bà. Dường như, Hồ Xuân Hương đang lắng tai nghe từng bước đi của thời gian trong tâm trạng rối bời. So với câu thơ mở đầu của bài thơ Tự tình I:

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom” 

thì ở bài thơ này nỗi buồn càng tăng lên gấp bội. Trong khi tâm trạng như mối tơ vò không thể gỡ mà thời gian cứ thế gấp gáp trôi đi, đọng lại, để lại sự bẽ bàng, tủi hổ. “ Trơ” là một mình, cô đơn, trơ trọi ; “hồng nhan’’ để chỉ người phụ nữ má hồng. Hai chữ “hồng nhan” đi kèm với “cái” để cụ thể hóa. Nghe sao lại rẻ rúng, mỉa mai đến vậy! Đã vậy, lại còn được đặt trong một không gian rộng lớn “nước non” càng tăng thêm phần rẻ rúng. Nhìn mà thấy thương! Câu thơ thừa đề không chỉ là sự dãi dầu mà còn cả phân cay đắng trong đó. Dù câu thơ chỉ nói lên 1 vế thành ngữ “hồng nhan’’ mà vẫn làm nổi bật vế ‘’ bạc phận’’. Vì vậy, nỗi xót xa càng ngẫm lại càng đau cho duyên phận hẩm hiu.

Xem thêm:  Bình luận về câu nói Tình thương là hạnh phúc của con người

Trong cái hoàn cảnh cô đơn, buồn tủi ấy, Hồ Xuân Hương càng tuyệt vọng không lối thoát: 

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xé khuyết chưa tròn

Câu thơ với nét đặc sắc là ẩn chủ ngữ, chỉ thấy hành động và trạng thái diễn ra. Với nỗi cô đơn, ê chề, não ruột ấy, nhân vật trữ tình đã mượn “chén rượu hương” để quên sầu, quên đi sự đời đầy bế tắc này! Nhưng “say lại tỉnh’’, càng tỉnh lại càng tháy cô đơn, chán nhường. Hương rượu này để lại vị dắng chát như hương vị tình, tuy chỉ là thoáng qua nhưng lại là vết thương lòng khó phai. Giờ đây chỉ còn cái “phận ẩm duyên ôi”. Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên như một vòng tròn luẩn quẩn, tình duyên là một trò đùa. Trong đêm khuya thanh vắng, Hồ Xuân Hương “ngồi nhấn tàn canh” ngồi uống rượu một mình trong cô đơn đối diện với vầng trăng lạnh. Uống rượu để say nhưng say lại tỉnh, lúc này ngắm trăng thì trăng sắp tàn, không những thế mà còn “khuyết chưa tròn”. Câu thơ không đơn giản chỉ là ngoại cảnh mà còn là tàn cảnh tạo nên sự đồng nhất giữa trằ và tâm hồn người nữ sĩ. Cảnh tình của Hồ Xuân Hương đã được thể hiện rõ quan hình tượng thơ chứa đựng hai lần bi kịch: buồn cay vì tuổi xuân không còn mà nhân duyên chưa trọn vẹn

Tuy nhiên, bên cạnh nỗi đau HXH lại chính là bản lĩnh Hồ Xuân Hương ( chỉ mình nữ thi sĩ mới có). Bản lĩnh ấy được thể hiện phần nào ở câu thừa đề “Trơ” không chỉ là sự tủi hổ, bẽ bàng mà còn là sự thách đố. “Trơ” được đặt trong không gian bao la “nước non” đã cho thấy sự bền gan thách đố nỗi niềm phẫn uất của XH đã lan tỏa khắp cả đất trời. Ở bài thơ Tự tình I bà viết:

Oán hận trông ra trong ra khắp mọi chòm

thì ở đây có lẽ vẫn là nỗi “oán hận” ấy mà “trông ra” thì thấy:

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

 Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

Thiên nhiên dường như cũng mong nỗi oán hận, phẫn uất. Những sinh vật bé nhỏ mac rất yếu ớt lại càng yếu ớt hơn cả “nội cỏ hoa hèn” nhưng đám rêu kia sao lại không chịu mềm yếu? Nó phải mọc xiên,mà còn phải “xiên ngang mặt đất” mới thỏa lòng! Đá vốn rất rắn chắc, nay vào thơ Hồ Xuân Hương lại thêm sắc nhọn để “đêm toạc chân mây”. Biện pháp đảo ngữ trong hai câu luận đã làm nổi bật lên sự phẫn uất của thân phận rêu, đá. Bên cạnh đó, việc sử dụng từ ngữ tài hoa kết hợp giữa những động từ mạnh “xiên”, “đâm” cùng bổ ngữ “ngang”, “toạc” đã bộc lộ sự bướng bỉnh, ngang ngạnh. Rêu thì xiên mặt đất, đá thì đâm toạc chân mây thành vạch trời oán hận, không chỉ là sự phẫn uất mà còn là sự phóng khoáng. Dù trong tình huống thê thảm nhất, cảnh vật trong thơ bà lúc nao cũng sinh động, căng tràn sức sống.

Thế nhưng, bi kịch Hồ Xuân Hương lại ở chỗ “bà không mảy may có cảm giác thua cuộc” nhưng kết quả bà lại thua, thua một cách thảm hại. Chính vậy, khép lại bài thơ là tâm trạng chán nhường, buồn tủi cho cảnh ngộ và thân phận:

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con.”

“Ngán” là chán ngán, ngán ngẩm. Hồ Xuân Hương đã “ngán” lắm rồi cái cuộc đời bạc bẽo, éo le này. Xuân đi rồi xuân lại trở về với đất trời nhưng tuổi xuân của con người chẳng thế có lần thứ hai. Hai từ “lại” trong câu thơ có ý nghĩa khác nhau: “lại” đầu tiên có thể hiểu được là sự lăp lại ; “lại” thứ hai là sự trở lại. Sự trở lại của mùa xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi trẻ. Biết bao chua chát, chán ngán, nặng nề mà Hồ Xuân Hương gửi vào trong chữ “lại” đầu tiên rồi càng thêm chua xót khi hai chữ “lại” cùng xuất hiện trong câu thơ. Nghệ thuật tăng tiến làm nghịch cảnh thêm éo le hơn: mảnh tình-san sẻ-tí-con con.Tình cảm vốn là thứ vô hình, ta chỉ có thể cảm nhận nó nhưng Xuân Hương lại biến một thứ vô hình thành hữu hình – “mảnh tình”. Chẳng phải là cuộc tình hay mối tình mà là “mảnh tình”. “Mảnh” nghe thôi đã thấy nhỏ bé biết nhường nào. Mà giờ đây phải “san sẻ” chỉ còn lại “tí con con” đã bé lại còn thêm bé hơn. Trông thật xót xa, tôi nghiệp. Sau Xuân Hương, Nguyễn Khuyến cũng dùng từ tài tình như thế: “ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Nhưng đặt trong hoàn cảnh của XH thì lại mang một ý nghĩa đặc biệt. Từng chữ của câu thơ kết hợp vs nhau như một sự sâu chuỗi tạo cảm giác đầy ngậm ngùi, đắng cay. Câu thơ được viết ra từ tâm trạng của người đã mang cảnh lấy chồng chung, từng mang thân phận làm lẽ ( bởi 2 lần bà lấy chồng bà đều làm vỡ lẽ )

Chết cha cái kiếp lấy chồng chung

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng.”

Tuy nhiên, cái khái quát của nó lại lớn hơn một hoàn cảnh chung chồng. Đó là nỗi lòng của người phụ nữ trong thời phong kiến khi hạnh phúc đối với họ chỉ là chiếc khăn chật hẹp.

Bài thơ tuy diễn tả một tình cảm đáng thương, một số phận đáng thương của người phụ nữ xưa nhưng bài thơ lại cho thấy một vẻ đẹp tiềm ẩn ở trongg trái tim họ: khát khao hạnh phúc luôn cháy bỏng, mềm yếu nhưng lại mạnh mẽ vươn lên đáng để ta trân trọng. 

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Phân tích bài thơ tự tình 2 hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ tự tình 2 thật hay và đạt được kết quả cao.

Post Comment