Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ tràng giang

Phân tích bài thơ tràng giang

Tổng hợp những bài làm văn Phân tích bài thơ tràng giang hay nhất của các bạn học sinh giỏi văn đạt điểm cao. Mời các bạn đọc tham khảo và dựa vào đây viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ tràng giang thật hay. Chúc các bạn luôn luôn học tập tốt.

Phân tích bài thơ tràng giang – Bài làm 1

Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới (1930-1945) với những tác phẩm có sự kết hợp giữ yếu tố hiện đại và cổ điển. Phong cách sáng tác của ông có sự khác biệt lớn gắn liền với hai thời điểm: trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. Có thể nói đó là sự chuyển biến từ nỗi u sầu, buồn bã vì thời thế trước cách mạng cho đến không khí hào hứng vui tươi sau cách mạng gắn với công cuộc đổi mới. Bài thơ “Tràng giang” được viết trong thời kì trước cách mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, gợi lên sự bế tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi lênh đênh. Bài thơi để lại trong long người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.

Ngay từ nhan đề bài thơ, tác giả đã có thể khái quát được tư tưởng và cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Hai chữ “Tràng giang” có thể nói là một con sông dài, mênh mông và bát ngát. Từ Hán việt này khiến người ta liên tưởng đến những bài thơ Đường của Trung quốc. Nhưng chính tràng giang này cũng gợi lên được tâm tư của người trong cuộc khi muốn nhắc tới những thân phận nổi trôi, bé nhỏ sống lênh đênh trên con sông dài tâm tưởng và sông của nỗi u uất như thế.

Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” một lần nữa khái quát nên chủ đề của bài thơ chính là nỗi niềm không biết bày tỏ cùng ai khi đứng giữa trời đất mênh mông và bao la. Cả bài thơ toát lên được vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ điển, cũng là đặc trưng trong thơ của Huy Cận.

Bước vào bài thơ, khổ thơ đầu tiên đã khiến người đọc liên tưởng đến một con sông chất chứa bao nỗi buồn sâu thẳm:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu tram ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Với một loạt từ ngữ gợi buồn thê lương “buồn”, “xuôi mái”, “sầu tram ngả”, lạc mấy dòng” kết hợp với từ láy “điệp điệp”, “song song” dường như đã lột tả hết thần thái và nỗi buồn vô biên, vô tận của tác giả trong thời thế nhiều bất công như thế này. Ngay khổ thơ đầu, nét chấm phá của cổ điển đã hòa lẫn với nét hiện đại. Tác giả đã mượn hình ảnh con thuyền xuôi mái và hơn hết là hình ảnh “củi khô” trôi một mình, đơn lẻ trên dòng nước mênh mông, vô tận, vô đinh. Sức gợi tả của câu thơ thực sự đầy ám ảnh, môt con sông dài, một con sông mang nét đẹp u buồn, trầm tĩnh càng khiến người đọc thấy buồn và thê lương. Vốn dĩ thuyền và nước là hai thứ không thể tách rời nhau nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về nước lại sầu tram ngả”, liệu rằng có uẩn khúc gì chăng, hay là sự chia lìa không báo trước, nghe xót xa và nghe quạnh long hiu hắt quá. Một nỗi buồn đến tận cùng, mênh mang cùng sông nước dập dềnh. Điểm nhấn của khổ thơ chính là ở câu thơ cuối với hình ảnh “củi” gợi lên sự đơn chiếc, bé nhỏ, mỏng manh, trôi dạt khắp nơi. Có thể nói câu thơ đã nói lên được tâm trạng của các nhà thơ mới nói chung ở thời kỳ đó, một kiếp người đa tài nhưng vẫn long đong, loay hoay giữa cuộc sống bộn bề chật chội như thế này.

Đến khổ thơ thứ hai dường như nỗi hiu quạnh lại được tăng lên gấp bộ:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Hai câu thơ đầu phảng phất một khung cành buồn thiu, đìu hiu và vắng lặng của một làng quê thiếu sức sống. Đó có phải là quê hương của tác giả hay không. Hình ảnh “cồn nhỏ” nghe rất rõ tiếng gió đìu hiu đến tái lòng ở ven dòng sông dường như khoác lên mình một nỗi buồn mặc định. Ngay cả một tiếng ồn ào của phiên chợ chiều ở nơi xa cũng không thể nghe thấy, hay có chăng phiên chợ ấy cũng buồn đến hiu quạnh như thế này. Một câu hỏi tu từ gợi lên bao nỗi niềm chất chứa, hỏi người hay là tác giả đang tự hỏi bản thân mình. Từ “đâu” cất lên thật thê lương và không điểm tựa để bấu víu. Khung cảnh hoang sơ, tiêu điều nơi bến nước không có một bóng người, không có một tiếng động thật chua xót. Hai câu thơ cuối tác giả mượn hình ảnh trời và sông để đặc tả sự mênh mông vô đinh.Không phải trời “cao” mà là trời “sâu”, lấy chiều cao để đo chiều sâu thực sự là nét tài tình, tinh tế và độc đáo của Huy Cận. Hình ảnh sông nước mênh mông và một chữ “cô liêu” ở cuối đoạn dường như đã lột tả hết  nỗi buồn sâu thẳm không biết ngỏ cùng ai ấy.

ở khổ thơ thứ ba, tác giả muốn tìm thấy sự ấm áp nơi thiên nhiên hiu quạnh này nhưng dường như thiên nhiêu không như long người mong ngóng:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thương nhớ

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Sang khổ thơ thứ 3 dường như người đọc nhận ra một sự chuyển biến, sự vận động của thiên nhiên, không còn u buồn và tĩnh lặng đến thê lương như ở khổ thơ thứ hai nữa. Từ “dạt” đã diễn  tả thật tinh tế sự chuyển biến của vạn vật này. Tuy nhiên từ ngữ này gắn liền với hình ảnh “bèo” lại khiến cho tác giả thất vọng vì “bèo” vốn vô đinh, trôi nổi khắp nơi, không có nơi bấu víu cứ lặng lẽ dạt “về đâu”, chẳng biết dạt về đâu, cũng chẳng biết dạt được bao nhiêu lâu nữa. Mặt nước mênh mông không có một chuyến đò. Tác giả chỉ đợi chờ một chuyến đò để thấy được rằng sự sống đang tồn tại nhưng dường như điều này là không thể.

Mong ngóng gửi niềm thương nỗi nhớ về quê hương nhưng tác giả nhận lại là sự im lặng của vạn vật quanh đây qua từ láy “lặng lẽ” đến thê lương và đìu hiu.

ở khổ thơ cuối dường như bút pháp của tác giả được đẩy lên cao nhất, nét vẽ chấm phá dung rất đắc điệu:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Có thể nói tư tưởng cũng như tâm tình của nhà thơ được gửi gắm qua khổ thơ này. Nét chấm phá “mây cao” và “núi bạc” giống như trong thơ Đường càng them sầu, them buồn hơn. Hình ảnh “chim nghiêng cánh” và “bóng chiều sa” là sự hữu hình hóa cái vô hình của tác giả. Bóng chiều làm sao có thể nhìn thấy được nhưng qua ngòi bút và con mắt của tác giả người ta đã hình dung ra được trời chiều đang dần buông xuống.

Hai câu thơ cuối cùng chính là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả chẳng biết gủi vào đâu, chỉ biết chất chứa đong đầy trong trái tim. Câu thơ của HUy Cận khiến chúng ta liên tưởng đến tứ thơ của Thôi HIệu:

Trên sông khói sóng cho buồn long ai

Là sóng của sông hay là sóng trong long người

Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cổ điển đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng về quê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận.

Phân tích bài thơ tràng giang – Bài làm 2

Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận (1919-2005), là một trong những nhà thơ lớn tiêu biểu của Văn học Việt Nam hiện đại. Huy Cận yêu thơ ca Việt Nam, thơ Đường và chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp nên thơ Huy Cận có vẻ đẹp hài hòa của yếu tố cổ điển và hiện đại. Thơ Huy Cận hàm xúc, giàu chất suy tưởng và triết lí thâm sâu. Tràng Giang là một trong số những bài thơ tiêu biểu nhất thể hiện sắc nét bút pháp nghệ thuật độc đáo của Huy Cận. Và Tràng Giang  “Tràng giang đã nối tiếp mạch thi cảm truyền thống với sự cách tân đích thự

Mạch cảm thi cảm truyền thống là tức nguồn cảm hứng của văn học truyền thống thường thiên về những nỗi buồn. Những bài thơ ca luôn ẩn chứa nội dung tâm trạng của thi nhân. Đó là nỗi buồn thái thế nhân tình, buồn về sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên hùng vĩ rợn ngợp – “ nỗi sầu vũ trụ “, là nỗi buồn xa cách tình thân tình nhân, sự chia lìa tình cảm lứa đôi… Thi nhân xưa đã đem những nỗi sầu đó khoác áo cho cảnh vật xung quang mà đưa vào thơ ca vẻ đẹp lãng mạng mà buồn. Giống như Nguyễn Du đã từng viết rằng “ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, nỗi buồn đã lan tỏa không gian, từ đáy mắt con người mà nhìn đâu cũng thấy sự vật chung một tâm trạng, chung một nhịp đập con tim được lấp đầy bằng những sầu bi, buồn bã. Còn sự cách tân được nhắc đến trong nhận xét về bài thơ Tràng Giang chính là sự đổi mới trong nền thơ ca Việt Nam, nhất là phong trào Thơ mới 1930-1945. Sự đổi mới ấy thể hiện trong cả hồn thơ lẫn phương thức biểu đạt ý thơ. Tràng Giang là bài thơ vừa mang nét buồn truyền thống thơ ca nhưng cũng lại đầy mới mẻ cách tân dưới ngòi bút tài năng của Huy Cận.

Tràng Giang được Huy Cận viết vào mùa thu 1939 in trong tập thơ Lửa thiêng – tập thơ đầu tay của thi nhân. Bao trùm lên bài thơ là một mạch cảm xúc buồn, từng câu từng chữ, từng khổ thơ đêu ngấm lấy cái vị buồn, cô đơn trước thiên nhiên vũ trụ rộng lớn mà con người lại nhỏ bé, lòng  ngổn ngang tâm trạng. Nhan đề bài thơ Tràng Giang gợi ra một ấn tượng khái quát và trang trọng cổ điển lại vừa thân mật, việc sử dụng từ Hán – Việt để đặt tên nhan đề đã cho ta thấy sự hài hòa cổ điển và hiện đại trong thơ mới. Bài thơ được gợi tứ từ dòng sông Hồng nhưng lại được đặt tên là Tràng Giang chắc hẳn đọc giả đã chú ý đến. Mặc dù là sông Hồng gợi tứ nhưng không gian cảnh tượng được Huy Cận miêu tả trong bài thơ lại vô cùng khái quát rộng. Bài thơ gợi lên mọi con sông khắp miền đất nước chứ không riêng gì dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa đi vào thơ ca bấy lâu. Ngoài ra có những ý kiến cho rằng sao nhà thơ lại không đặt nhan đề là Trường Giang ( con sông dài, sông lớn cũng bằng nghĩa với Tràng Giang). Đó là bởi vì nhà thơ sợ sẽ nhầm lẫn với tên của con sông nổi tiếng của Trung Quốc – sông Trường Giang. Tràng Giang  là hai từ láy vần “ ang” gợi âm hưởng dài rộng lan tỏa, ngân vang trong lòng đọc giả, nó ánh lên vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.

Xem thêm:  Bình luận về câu nói Sống là không chờ đợi

Mở đầu bài thơ là câu đề tự “ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Huy Cận viết đã định hướng cảm xúc chủ đạo của bài thó. Đó là niềm bang khuâng, là nỗi buồn sầu lan tỏa không gian rộng lớn đa chiều, nhẹ nhàng mà sâu lắng trước cảnh sông dài trời rộng. Hay đây chính là nỗi buồn bang khuâng của chàng thanh niên thời thơ mới – Huy Cận.

Đọc bài thơ, ngay từ khổ thơ đầu tiên Huy Cận đã mở ra trước mắt độc giả cảnh sông nước mênh mông bất tận:

 “ Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Cảnh và tình người được thể hiện một cách đăng đối nhau song song trong từng câu thơ. Con song trên mặt nước sông Tràng Giang gờn gợn nhẹ nhàng không dứt cũng như nỗi buồn của con người cứ dào dạt đến hết đợt này lại đợt khác. Một nỗi buồn “ điệp điệp “ day dứt lòng người.  Còn con thuyền trên sông, nó không phải được chèo lái mà là “ xuôi mái “ tự mình thả trôi theo dòng nước gợi lên sự lênh đênh trôi dạt phó mặc cho dòng nước chảy. Hình ảnh con thuyền đó gợi lên kiếp người nhỏ bé đơn côi với cuộc đời vô định của mình. Giữa Tràng Giang điểm nhìn của tác giả hướng vào con sóng nhỏ gợn trên mặt nước. Sóng tuy rất nhiều nhưng chúng hiện ra rồi lại tan biến vào hư vô mãi mãi như thời gian trôi qua không lấy lại được. Thuyền và nước, chúng chỉ song song nhau thôi chứ không phải gắn bó lâu dài đi cùng nhau hết đoạn đường sông dài vô tận. Bởi vì nước xuôi tram ngả thuyền biết theo lối nào. Thuyền – nước như hai đường thẳng song song phân cách nhau không bao giờ có điểm chung mà gặp gỡ, điều này dễ khiến ta liên tưởng đến cảnh chia ly, biệt ly giữa thuyền và con nước chảy bên dưới.

“ Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

Huy Cận đã mượn hình ảnh con thuyền cô độc một mình thả trôi trên sông để bộc lộ sự lạc lõng cô đơn, đó đã là một cách sử dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình sâu sắc thế nhưng đọc đến câu thơ “Củi một cành khô lạc mấy dòng “ ta mới tận hưởng rõ nét cái tài, cái hay trong thơ của ông. Như nỗi buồn sầu cô đơn ngày càng ăn sâu vào tâm trí nhà thơ mà cái đơn độc nay còn được nhấn mạnh hơn ở sự nhỏ bé giảm dần của sự vật được đưa vào bài thơ. Giữa một dòng sông rộng lớn duy chỉ có con thuyền thôi đã thấy nhỏ nhoi, lạc loài giữa chốn sông nước, nay chỉ có độc một cành củi khô thì nghe sao thật bé nhỏ đến đáng thương. Cách viết “ củi một cành khô” gây ấn tượng cho đọc giả bởi phép đảo danh từ lên trước số từ; cành củi ở đây là hình ảnh chân thực vô cùng, nó bập bềnh nương theo dòng nước trôi và nó cũng là hình ảnh tượng trưng cho kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng cô đơn, vô định. Qua đây ta thấy rõ sự sáng tạo hiện đại trong câu thơ có cành củi khô của Huy Cận. Chẳng phải chỉ tùng, cúc, trúc, mai – những loài cây, loài hoa tượng trưng cho phẩm chất khí khái anh hùng mới xứng đáng được đi vào thơ ca mà ngay ở đây cành củi khô thôi trong Thơ mới đã gợi lên bao ý tứ đẹp dưới ngòi thơ tài hoa của Huy Cận. Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ là nỗi sầu thấm đẫm không gian, còn vẻ đẹp hiện đạu là ở những chi tiết thật: cành củi khô quen thuộc, là sự thiếu gắn bó, chia lìa của tâm hồn nhà thơ khi ngắm cảnh sông Hồng.

“ Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. “

Khổ thơ II lại tiếp tục mạch tình và ý của khổ I. Mặt khác khổ thơ II có thêm những nét sáng tạo mới. Câu thơ đầu là một nét vẽ mền mại, uốn lượn, nhịp nhàng bởi các vần lưng liên tiếp “ lơ thơ”, “ nhỏ”,“đìu hiu”. Vẫn tiếp tục khung cảnh rộng lớn còn sự vật nhỏ bé, đơn cô, cồn nhỏ thấp thoáng lơ thơ ấy, Huy Cận càng ngày càng dẫn dắt ta vào hoài niệm nỗi buồn khi ấy của nhà thơ. Từ “ đìu hiu” gợi sự cô đơn, lạnh vắng và hiu hắt. Từ này theo nhà thơ Huy Cận thì ông đã “ học” từ trong “ Chinh phụ ngâm khúc”: “ Bến phì gió thổi đìu hiu mấy đò”. Huy Cận đã biết học hỏi những giá trị thơ ca nhân văn từ những tác giả đi trước để góp phần tô điểm thêm cho đứa con tinh thần của mình ngày càng xinh đẹp, thu hút đọc giả yêu thích thơ ông. Từ “ đâu “ trong câu thơ “ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều “ có hai nét nghĩa hiểu. Có thể hiểu theo nét nghĩa thứ nhất là ở đâu, đâu đó quanh đây vùng sông nước rộng lớn này vọng đến tai nhà thơ tiếng người buôn bán, cười đùa khi vãn chợ. Hay nét nghĩa thứ hai là từ “đâu”mang hàm ý phủ định sự tồn tại của con người nơi đây hoang mắng đìu hiu gió thổi như thế này. Nhưng dù hiểu theo nét nghĩa nào thì cảnh vật cùng chỉ tang thêm sự vắng lặng, tĩnh mịch. Bởi nếu có tiếng người thật thì nó lại là “làng xa” vọng tới, cách xa nơi chỉ có sông nước mênh mông bát ngát- nơi tác giả đang đứng ngắm nhìn dòng sông Hồng. Còn không có con người sinh sống tức càng làm tăng thêm sự thiếu thốn sự sống nơi đây. Tóm lại tồn tại trong mắt nhà thơ lúc này chỉ có cảnh và cảnh vật.  Đồng thời câu thơ còn ngầm biểu thị ý mong mỏi của nhà thơ đang kiếm tìm dấu hiệu sự sống, hơi ấm tình người. Thế nhưng càng tìm, tìm mãi nhà thơ chỉ càng thấy cô đơn, buồn sầu. Câu thơ 3, 4 của khổ II đã mở ra không gian đa chiều được nối bằng các động từ, tính từ đầy sáng tạo và ngược hướng: “xuống”, “lên”, “sâu chót vót”, “dài”, “rộng”. Ánh nắng mặt trời từ trên cao rọi xuống mặt nước, tác giả đứng trên đê, lưng chừng giữa trời – sông. Ở vị trí quan sát như thế nhà thơ nhìn từ cao xuống dưới sông đang phản chiếu lại một bầu trời bản sao y hệt nền trời trên đỉnh đầu. Không gian được rộng mở ra từ đó. Đặc biệt cụm từ “sâu chót vót” là một cách viết đầy nghệ thuật mới lạ không chỉ vì nó ngược với lẽ thường tình là “cao chót vót” mà còn xuất phát từ thực tế điểm nhìn của nhà thơ. Kết thúc khổ thơ II là câu thơ “Sông dài trời rộng bến cô liêu”, câu thơ không tả cụ thể bến nào, chỉ thấy rằng nó cũng mang trạng thái đơn độc một mình. Bến vắng khách không một ai qua cả. Trên trời thì gió đìu hiu, bên dưới lại bến cô liêu nỗi buồn thêm lan tỏa sâu sắc trong từng cách gieo vần thơ, ghép cặp hô ứng đầu cuối khổ thơ.

Sang tiếp khổ thơ III của bài thơ không chỉ đơn thuần là cái buồn tẻ của cảnh vật bao trùm nữa mà sâu sắc hơn ả chính là buồn về kiếp người được bộc lộ rõ nét. Hình ảnh bèo trôi dạt vốn là chi tiết lấy từ cảnh thật trên dòng sông Hồng nhưng khi đặt thành câu hỏi  “dạt về đâu” thì lại có ý biểu tượng cho những kiếp người trôi nổi, bấp bênh, vô định. Đọc đến đây, phát hiện ra hình ảnh bèo thân thuộc ta nhớ đến câu hát quan họ cổ truyền cứ ngân vang trong lòng “ Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi…” . Lại một lần nữa nhà thơ lại nhắc đến quang cảnh trời nước mênh mông mà vắng vẻ, buồn hiu hắt không một chuyến đò ngang – “ Mênh mông không một chuyến đò ngang” . Trong thơ thường tả đến những sự vật hiện tượng có nhưng Huy Cận lại phá cách tả cái không có, đó là không một chuyến đò thực xuất hiện bên dòng sông rộng lớn. Tả cái không có là ngụ ý của nhà thơ rằng muốn nhấn mạnh cái không có, như vậy làm rõ thêm tâm tình khao khát tìm kiếm tình người, sự thân mật thân tình yêu giữa người với người. Có lẽ nhà thơ vẫn đang không ngừng đưa mắt kiếm tìm bóng hình con người hay chỉ chút âm thanh quen thuộc người nói chuyện qua thôi chắc cũng đủ làm Huy Cận thấy ấm lòng biết bao khi ở giữa chốn thiên nhiên hùng vĩ lấn át làm con người choáng ngợp, thu mình lại. Thế nhưng điều nhà thơ mong mỏi lại không thành hiện thực khi ông nhận thấy rằng đò thuyền không có mà hóa ra nhịp cầu bắc ngang nối giữa hai bờ sông cũng chẳng thấy đâu. Như một rào càng vô hình mà xa cách khiến lòng nhà thơ càng thêm trống trải cũng lại càng thêm chờ đợi trông mong, liệu phép màu có xảy ra đưa tình người thân mật đến với nhau một cách tự nhiên chân thành nhất? Đồng thời ta cũng nhận thấy nỗi sầu của nhà thơ lại gắn liền với nỗi buồn nhân thế, buồn quê hương đất nước được thể hiện vô cùng kín đáo.

Tràng Giang  là một bài thơ tuyệt bút của Huy Cận có nhận xét rằng mỗi khổ thơ đều có thể tách riêng thành một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Đúng như vậy bởi bao trùm bài thơ là nỗi sầu cô đơn trước vũ trụ rộng lớn bao la và niềm khao khát kiếm tìm yêu thương, tình người cùng với những hình ảnh thơ giản dị quen thuộc mang nét truyền thống nhân dân người Việt. Và khổ thơ IV – tức khổ cuối, chính là phần đặc sắc nhất của cả bài thơ, là bài thơ tứ tuyệt nhỏ mang sự hài hòa cổ điển và hiện đại sâu sắc nhất.

“ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dờn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Hai câu thơ đầu của khổ thơ là miêu tả cảnh trời cao cùng lớp lớp mây trắng đùn ra như những núi bạc thật đẹp và hùng vĩ. Chữ “đùn” trong câu thơ gợi nhớ đến một câu thơ khác của Nguyễn Trãi cũng sử dụng rất thành công từ đó  “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”. Và không chỉ đây là lần đầu tiên Huy Cận sử dụng từ “đùn”  trong các sáng tác của mình, trong một bài thơ khác hiệu ứng của từ “đùn” cũng đã được nhà thơ sử dung một cách sáng tạo” Bóng tối đùn ra trận gió đen”. Hình ảnh cánh chim nhỏ choa nghiêng mình hết sức sinh động và đẹp lạ kì. Cánh chim bé nhỏ ấy được miêu tả như đang gánh vác trên lưng mình cả một “bóng chiều sa”. Bởi cánh chim rất nhỏ mà lại nghiêng nên ta có cảm giác nó thật sự rất nhỏ bé đối lập hoàn toàn vơi cảnh thiên nhiên rộng lớn hùng vĩ, choáng ngợp nên đã tôn lên vẻ đẹp cho cả hai. Hai cuối là tác giả đã diễn tả trực tiếp bộc bạch tâm trạng của mình. Đó là nỗi nhớ quê cứ dâng lên theo từng con sóng. Điệp từ “dờn dợn” là sự tăng tiến cấp độ ý nghĩa nhịp nhanh, tăng cao của sóng lòng. Nếu ở khổ thơ đầu là “sóng gợn”-nghiêng về tả cảnh thật  thì nay khổ cuối ý thơ lại là như một phép nhân hóa giữa sóng sông và con sóng lòng trào dâng của Huy Cận. Câu thơ cuối cũng chính là câu thơ then chốt bày rõ ràng ý thơ gửi gắm trong bài, đó là nỗi nhớ thương quê nhà da diết, nồng thắm. Và nó gợi ta nhớ đến một câu thơ khác của nhà thơ Thôi Hiệu:

Xem thêm:  Phân tích nhân vật bà Tú trong bài thơ Thương vợ

“ Nhật mợ hương quan hà xứ thị    

Yên ba giang thượng sứ nhân sầu?”

Nhà thơ Thôi Hiệu khi xưa đi xứ xa quê nhìn thấy khói bếp tỏa lên, sóng trên sông mà nhớ nhà. Còn Huy Cận chẳng cần phải có khói mới nhớ đến quê hương mà ngay trong tiềm thức của nhà thơ quê hương đã luôn thường trực nay gặp cảnh buồn thì niềm nhung nhớ ấy càng thêm sâu đậm. Hai nhà thơ,, hai thế hệ khác nhau, hai thời đại nhưng cùng có một điểm chung là nỗi nhớ quê hòa quyện  cùng yêu thiên nhiên, đất nước thắm thiết nồng nàn.

Tràng Giang-một bài thơ mới mang vẻ đẹp cổ điển. Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại là đặc sắc nghệ thuật bao trùm bài thơ, nỗi sầu cô đơn của cái tôi cá nhân trước cảnh thiên nhiên, vũ trụ thấm đượm tình người, tình đời và lòng yêu quê hương đất nước tha thiết thầm kín là chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Đúng như Xuân Diệu nhận xét về “Tràng Giang”: “Bài thơ dọn đường cho tình yêu quê hương đất nước”. Một lần nữa ta lại phải phục cái tài thơ văn của Huy Cận, ông khéo léo dùng thể thơ thất ngôn khiến cho bốn khổ thơ như bốn bức tứ bình tròn vẹn, hoàn hảo, sử dụng rất nhiều từ Hán – Việt, nhiều thi liệu truyền thống và phong thơ mang dáng dấp Đường thi ở sự hàm súc, cô đọng, tao nhã. Và không thể không nhắc đến yếu tố hiện đại sáng tạo trong bài thơ, đó là nỗi buồn sầu nhưng lại bang khuâng, mang mác-nỗi sầu của thời đại, cảnh vật thơ giản dị, thân quen. Qua bài thơ “ Tràng Giang” Huy Cận còn muốn thể hiện cái tôi cô đơn trước vũ trụ, kín đáo bày tỏ lòng yêu quê hương đất nồng thắm.

Phân tích bài thơ tràng giang – Bài làm 3

Tràng giang là một bài thơ hay của Huy Cận, đó là một trong những bài thơ tiêu biẻu cho phong trào Thơ mới 1932 – 1945. Tràng giang không phải là bài thơ miêu tả phong cảnh quê hương đất nước, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, đây là bài thơ thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người như không có quê hương giữa đất nước mình.

Nhà thơ Huy Cận cho biết bài thơ này được sông Hồng quãng Chèm, Vẽ gợi tứ, nó là bài thơ nói về nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra, nên như kéo dài triền miên.

Vì thế đầu đề bài thơ là Tràng giang chứ không phải là Trường giang, để người đọc không lầm với sông Trường Giang, Trung Quốc. “Tràng giang” có trong thành ngữ “tràng giang đại hải”, chỉ một hiện tượng mênh mông dài bất tận. Bài thơ có bốn khổ nói đến một nỗi buồn đượm màu sắc triết lí.

Mở đầu bài thơ là một cảnh sông nước lai láng mênh mông:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả,

Củi một cành khô lạc mấy dòng…”

Ngay câu đầu bài thơ bằng một hình ảnh ẩn dụ, tác giả lấy cảnh sóng gợn, tràng giang trùng trùng điệp để nói đến một nỗi buồn bất tận. Còn con thuyền là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, cô đơn, vô định. Đặc biệt là hình ảnh con thuyền buông mái chèo, xuôi theo dòng nước nhưng thuyền và nước chỉ “song song” với nhau, chứ không gắn bó gì. Thuyền với nước lẽ ra phải gắn bó với nhau, nhưng câu thơ thứ ba đã nói tới sự chia lìa, buồn sầu: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Nước buồn như không biết trôi về đâu. Câu cuối khổ thơ càng thể hiện nói đến kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng như một vật hết sức tầm thường chẳng ai để ý đến:

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Như vậy cả khổ thơ đầu đã vẽ lên một cảnh sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Những hình ảnh song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng, lại không gợi về sự hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là tan tác, chia lìa. Trên dòng sông đó, một con thuyền, một nhánh củi lênh đênh là hình tượng một cuộc đời trôi dạt vô định. ở đây, thuyền, cành củi khô, sóng gợn, sông nước đều buồn bã sầu.

Khổ thứ hai tiếp tục cái mạch thơ đầu:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu…”

Chao ôi! Một cái cồn nhỏ, lơ thơ, vắng vẻ, lại thêm ngọn gió đìu hiu, sao mà buồn bã như bị cuộc sống ruồng bỏ. Huy Cận học được hai chữ “đìu hiu” trong Chinh phụ ngâm: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” biểu hiện cảnh vắng vẻ, không người. Âm thanh của phiên chợ chiều đang tàn ở làng quê nghe xao xác xa vắng. Hai câu thơ cuối cùng càng tô đậm thêm cảm giác mung lung: “nắng xuống, trời lên sâu chót vót” gợi ra cái cảnh trời sâu thẳm khi nắng xuống tạo cảm giác một chiều cao hun hút đối diện. Với sông dài, trời rộng làm tăng thêm cái vắng vẻ, cô liêu của không gian và sông nước.

Khổ thơ thứ ba vẫn tiếp tục mạch cảm xúc hờ hững có cái bơ vơ đều bám vào cảnh vật:

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang,

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…”

Cảnh vật ở bên nhau: bèo dạt hàng nối hàng, con sông mênh mông không có cầu, không có đò ngang, tạo thành một cảnh quan đứt đoạn, mặc dầu con sông đó có bờ xanh tiếp bãi vàng. Cảnh vật trong khổ thơ như bứt xé ra từng mảnh. Từ thuyền, sóng, củi, dòng trôi đến cồn nhỏ, làng xa, chợ chiều, rồi nắng xuống, trời lên, sông dài, trời rộng, bến sông hai bờ đò ngang. Mọi vật không có vật nào có ý tìm nhau, đến với nhau, cần đến nhau.

Khổ thơ cuối, nhà thơ đem cái mạch sầu từ con người hoà vào cảnh vật:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…”

Cảnh sắc thiên nhiên rất đẹp nhưng vẫn mang dáng vẻ cô đơn. Mây đùn lớp lớp thành ngọn núi bạc, là hình tượng nỗi buồn tích tụ lại của con người. Một cánh chim nghiêng nghiêng bay dưới sức nặng của bóng chiều đè xuống làm ta có thể cảm nhận được bằng đôi cánh nhỏ. Nỗi buồn có hình hài và sức nặng. Và đến đây thì lòng nhớ quê hương gợn lên như sóng dợn trên mặt nước xao động dâng lên cuộn xuống. Dợn dợn là xao động liên tục, nhiều lần hô ứng với hai chữ “điệp điệp” ở dòng đầu bài thơ; chính vậy mà nhà thơ buồn khi thấy người đọc, đọc chệch thành “rợn rợn” hay “dờn dợn” làm mất nghĩa câu thơ.

Chữ “vời” và ý thơ làm ta nhớ đến hai câu tâm cảnh của nàng Kiều:

“Bốn phương mây trắng một màu,

Trông vời cố quốc biết đâu là nhà?”

Lòng nhớ quê được gợi lên từ cảnh sắc sông nước, từ mây trắng, từ cánh chim chiều, từ con nước. Và nhà thơ kết thúc bài thơ bằng câu: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…”. Nhà thơ nói rằng lấy ý của hai câu thơ của Thôi Hiệu:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”.

Tràng giang  là một bài thơ hay mà buồn, câu nào cũng buồn. Nhưng cái buồn được luồn vào một phong cảnh đẹp, giàu màu sắc (núi bạc, bờ xanh, bãi vàng) nhiều đường nét tráng lệ mở ra, vô tận (buồn điệp điệp, sâu chót vót, sông dài, trời rộng…) nhiều động từ có sức sống, như sóng gợn, mây đùn, thuyền về, nước lại, nắng xuống, trời lên…!

Bao phủ toàn bài thơ là một nỗi buồn rộng khắp và thấm thía. Nó không phải buồn vì cảnh vật tàn phai, không gian hạn hẹp tù túng. Đó là nỗi buồn của kiếp sống nhỏ nhoi, hữu hạn trước cái vô biên, vô tận, vô hạn. “Tràng giang” đã hoà hợp được những nét cổ điển của thơ Đường với cái dáng dấp hiện đại của thơ mới. Bài thơ đã thổ lộ nỗi niềm của một trái tim cô đơn. Một cái “tôi” trữ tình thống nhất với vô vàn mối dây liên hệ đã đứt tung để thay vào một xã hội đô thị với vô vàn cái “tôi” rời rạc, bơ vơ, mang nỗi buồn to lớn của thời đại.

Phân tích bài thơ tràng giang – Bài làm 4

Tác giả Huy Cận là một nhà thơ tiêu biểu, nổi tiếng trong phong trào thơ mới của nước ta với những tác phẩm kế hợp giữa phong cách truyền thống cổ điển và hiện đại. Phong cách thơ của ông đều thể hiện những đột phá trong sáng tác của mình.

Bài thơ “Tràng giang” là một bài thơ viết trong thời kỳ cách mạng thể hiện nỗi buồn u uất, gợn lên sự bế tắc trong cuộc sống của tác giả và người dân lúc bấy giờ. Những kiếp người lênh đênh như phận bèo trôi, chưa tìm ra ánh sáng chân lý của đời mình. Bài thơ thể hiện nỗi buồn mênh mang, man mác trong lòng tác giả những nỗi buồn không thể gọi thành tên.

Ngày trong nhan đề và lời tựa của bài thơ, tác giả Huy Cận đã khái quát được nội dung ý tưởng của bài thơ với hai chữ “Tràng giang” thể hiện một dòng sông mênh mông, bát ngát, vô tận.

Xem thêm:  Dàn ý Phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

Trong cảnh sông nước mênh mông vô tận đó lại gợi lên tình cảm tâm tư của tác giả khi muốn nhắc tới những thân phận bèo trôi, nhỏ bé lênh đênh trong cuộc đời chìm nổi không tìm ra lối thoát của cuộc đời mình.

Lời đề tựa của bài thơ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã khái quát lên toàn bộ chủ để tư tưởng chủ đạo của tác giả trong bài thơ. Nó thể hiện nỗi niềm của tác giả những nỗi buồn nhân tình thế sự không biết giãi bày cùng ai,

Trước cảnh đất trời bao la càng làm cho người ta trở nên cô đơn, cảm thấy mình thật là bé nhỏ, mong manh đơn độc. Bước vào khổ thơ đầu tiên của bài thơ, tác giả Huy Cận đã liên tưởng đến một con sông mênh mông, bát khát chứa chất biết bao nỗi niềm sầu thảm của đời người

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Khổ thơ, được sử dụng với những từ ngữ vô cùng buồn thảm, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng,.. khiến cho bài thơ trở nên buồn vô cùng. Tác giả Huy Cận sử dụng điệp từ ” Điệp điệp” “Song song” dường như đã diễn tả hết những nỗi buồn mênh mang vô biên, không có điểm kết trong lòng tác giả.

Ngay trong khổ thơ đầu, đường nét chấm phá cổ điển của thơ xưa được tác giả kết với phong cách thơ hiện đại. Tác giả đã mượn hình ảnh con thuyền trôi theo dòng đời, và một cành củi khô một mình trôi trên sông bơ vơ lạc loài để thể hiện nỗi buồn vô tận của mình.

Sức gợi tả của câu thơ thể hiện khiến người đọc vô cùng ám ảnh, một con sông dài một con sông gợi nét u buồn, trầm lặng khiến người đọc vô cùng thê lương, đau khổ.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Hai câu thơ đầu trong khổ thơ thứ hai này thể hiện cảnh buồn thê lương, cảnh chợ đã tan thiếu đi sức sống, những cồn cỏ lơ thơ khiến cho con người càng cảm thấy mình cô đơn lẻ bóng.

Hình ảnh cồn cỏ một mình chống chọi với những trận gió, thể hiện sự đìu hiu tê tái trong lòng của con người trước cảnh hoàng hôn chợ đã tan. Một câu hỏi tu từ gợi lên những nỗi niềm chất chứa, tác giả đang tự hỏi bản thân hay hỏi cuộc đời tạo nên những câu thơ vô cùng độc đáo thể hiện tâm trạng của một con người bế tắc trước cuộc sống.

Hai câu sau của khổ thơ tác giả mượn hình ảnh trời đất, dòng sông để miêu tả lên sự mênh mang, vô định thể hiện nỗi buồn ngút trời trong lòng tác giả.  Những từ đối lập giữ “lên” và ” xuống” thể hiện sự bao la mênh mông của không gian và thời gian, khiến cho con người càng cảm thấy mình thật nhỏ bé.

Hai từ “cô liêu” thể hiện sự quạnh quẽ, hiu hắt trong tâm trạng của tác giả giữa cảnh mênh mông sông nước này.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thương nhớ

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Trong khổ thơ thứ ba này tác giả muốn gửi tới người đọc sự chuyển biến, vận động của thiên nhiên không còn là cảnh u buồn yên lặng của không gian và thời gian nữa. Mà đã có sự vận động, bèo dạt, hàng nối hàng, thể hiện sự vận động, nhưng cũng thể hiện sự lênh đênh của những thân phận tựa như cánh bèo trôi kia.

Những cánh bèo trôi dạt không bờ bến không biết trước điểm dừng chân, bến neo đậu của cuộc đời mình. Nó tựa như những kiếp người không tìm thấy ánh sáng của tương lai, không biết cuộc đời mình sẽ đi đâu về đâu trước cảnh nhân tình thế thái.

Trong hai câu thơ cuối của khổ ba này tác giả muốn thể hiện tâm trạng nhớ nhà nhớ quê hương của mình, dù không cần cầu nhưng vẫn nhớ thương da diết.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Trong khổ thơ cuối này tâm tư tình cảm của nhà thơ Huy Cận đều được gửi gắm trong này. Với những nét chấm phá “mây cao” “núi bạc” càng làm cho bài thơ trở nên u sầu hơn bao giờ hết.

Hình ảnh cánh chim nghiên trong buổi chiều hoàng hôn bóng xa mờ là hình ảnh vô cùng đẹp thể hiện được nghệ thuật tài tình trong cách sử dụng từ ngữ của Huy Cận.

Một cánh chim nhỏ nhoi cô đơn trong bầu trời ba la, thể hiện sự hiu quạnh, cô đơn của lòng người.Trong hai câu cuối cùng của bài thơ thể hiện nỗi nhớ quê hương, nhớ nhà của tác giả “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Người xưa thường dùng khói chiều, để cảm thấy nhớ quê hương, nhớ mùi khói bếp thân thương

Nhưng tác giả Huy Cận không nhìn thấy khói hoàng hôn cũng vẫn nhớ nhà thể hiện tình cảm yêu quê hương tha thiết của tác giả.

Bài thơ “Tràng giang” là một sự kết hợp tuyệt vời giữa bút pháp tả thực và cổ điển của thơ Đường tác giả Huy Cận đã phác họa lên một bức tranh vô cùng đẹp nhưng cũng rất buồn và hiu quạnh.

Qua bài thơ, thể hiện nỗi buồn của tác giả trước việc không tìm ra chân lý soi sáng cho cuộc đời mình, chưa tìm ra lối đi cho quê hương đất nước những kiếp người chịu số phận lênh đênh bèo trôi, không biết đi đâu, về đâu.

Phân tích bài thơ tràng giang – Bài làm 5

“Tràng giang” là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ “Lửa thiêng” (1940). Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: “Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài”.

Tác giả đã có lần nói: “Tràng giang là một bài thơ tình và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn”. “Tràng giang” tiêu biểu cho vẻ đẹp của hồn thơ Huy Cận trước cách mạng: hàm súc, cổ điển, giàu chất suy tưởng triết lí, thấm thía một nỗi buồn nhân thế “sầu trăm ngả”.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu. Đây là khổ thơ thứ hai của “Tràng giang”:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng… ở khổ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng vẻ. Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn. Không gian nghệ thuật được mở rộng về đôi bờ và bầu trời. Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô “lơ thơ” như nối tiếp mãi dài ra. Gió chiều nhè nhẹ thổi “đìu hiu” gợi buồn khôn xiết kể. Hai chữ “đìu hiu” gợi nhớ trong lòng người đọc một vần thơ cổ:

“Non Kì quạnh quẽ trăng treo,

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”.

(Chinh phụ ngâm)

Làng xóm đôi bờ sông, trong buổi chiều tàn cũng rất vắng lặng. Một chút âm thanh nhỏ bé lao xao trong khoảnh khắc tan chợ, vãn chợ ở đâu đây, ở từ một làng xa vẳng đến. Lấy động để tả tĩnh, câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” đã làm nổi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang. Các nhà thơ mới coi trọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hòa thanh rất thần tình, tạo nên những vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu, đọc lên nghe rất thích. Hai câu thơ đầu đoạn có điệp âm “lơ thơ” và “đìu hiu”, có vần lưng: “nhỏ – gió”, có vần chân: “hiu – chiều”. Câu thơ của Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu:

“Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu

Lả lả cành hoang nắng trở chiều”…

(Thơ duyên)

Các điệp thanh: “nhỏ nhỏ”, “xiêu xiêu”, “lả lả”; các vần thơ, như vần lưng “nhỏ” với “gió”, vần chân “xiêu” với “chiều”. Những vần thơ “tươi nhạc tươi vần” ấy đã trở thành câu thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người yêu thích văn học.

Trở lại đoạn thơ trong bài “Tràng giang” của Huy Cận, ta như được nhập hồn mình vào cõi vũ trụ mênh mông và bao la. Trời đã về chiều. Nắng từ trên cao chiếu rọi xuống làm hiện ra những khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời. Vẻ đẹp của bầu trời thu quê hương ta đã trở thành vẻ đẹp của thi ca dân tộc: “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” (Thu vịnh); “Trời cao xanh ngắt – Ô kìa…” (Tiếng sáo Thiên Thai); “Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng” (Xuân Diệu). Thi sĩ Huy Cận lại nhận diện bầu trời không phải là cao mà là sâu, “sâu chót vót”:

“Nắng xuống / trời lên sâu chót vót”

Bầu trời và lòng sông “sóng gợn” là không gian hai chiều, rộng và cao, sâu. Trời cao thăm thẳm, rộng mênh mông in xuống, soi xuống lòng sông. Người ta thường nói “cao chót vót” và “sâu thăm thẳm”, nhưng Huy Cận lại cảm nhận là “sâu chót vót” vừa để làm nổi bật hai vế tiểu đối: “nắng xuống” // “trời lên”, vừa gây ấn tượng về cái bao la, mênh mông đến rợn ngợp của không gian vũ trụ vô tận, và cũng là nỗi buồn như vô tận trong lòng người. Khách li hương càng cảm thấy nhỏ bé, lẻ loi và cô đơn trước không gian vô hạn của vũ trụ. Dòng sông như dài thêm ra, bầu trời như rộng thêm ra, bến đò (hay bến lòng?) như cô liêu hơn, xa vắng, quạnh hiu hơn. Lời đề từ nhà thơ đã viết: “Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài”, cảm hứng ấy đã được láy lại ở câu thơ số 8, mở ra một trường liên tưởng đầy ám ảnh về vũ trụ thì vô hạn vô cùng, còn kiếp người thì nhỏ bé, hữu hạn:

“Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Cảnh sắc tràng giang được nói đến trong đoạn thơ là một không gian nghệ thuật đẹp mà buồn. Vẻ đẹp của những dòng sông trên mọi miền đất nước hội tụ trong tâm hồn thi nhân. Vẻ đẹp của tình yêu quê hương, tình yêu sông núi. Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước của Huy Cận, của thế hệ các nhà thơ thời tiền chiến. “Tràng giang” đã hợp lưu trong lòng người hơn 60 năm rồi. Đọc đoạn thơ trên, ta mới thấu hiểu nỗi lòng thi nhân trước cách mạng: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm…”.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Phân tích bài thơ tràng giang hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ tràng giang thật hay và đạt được kết quả cao.

Post Comment