Văn mẫu lớp 10

Phân tích bài thơ Nhàn của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đề bài: Phân tích bài thơ Nhàn của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Được người đời thừa nhận và tôn sùng là một nhà dự báo- Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là một nhà hoạch định chiến lược kỳ tài với tầm nhìn chiến lược chính trị đi trước nhiều thế kỷ mà ông còn là một nhà thơ kiệt suất để lajii cho nền thơ ca Việt Nam những tác phẩm đặc sắc. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình cả nội ngoại đều có học vấn uyên thâm, lớn lên trong lúc hỗn loạn của triều đình nhà Lê và sự nghiệp hình thành ở thời kỳ nhà Mạc. Những áng thơ ca của ông mang giá trị nghệ thuật tư tưởng rất lớn, trong lịch sử của dân tộc ông được nhìn nhận là một trong những nhà văn hóa lớn có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển của văn học dân tộc. Ông là một trong những nhà thơ lớn ở thế kỷ 16 những tác phẩm của ông có tầm ảnh hưởng lớn, có sức đóng góp tích cực đối với đời sống nhân dân.

Bài thơ “Nhàn” là một trong những bài thở thể hiện quan niệm sống của tác giả, ông quyết chống lại gian tà bằng sức mạng của văn chương, của ngòi bút đa tài của mình. Bài thơ được viết theo kết cấu thơ: đề, thực, luận, kết. Hai câu đề mở đầu bài thơ tác giả viết:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Câu thơ đầu với nhịp thơ 2/2/3 tạo cảm giác thư thái, ung dung của tác giả đang trong trạng thái thanh tịnh, tĩnh tâm, tác giả sử dụng những công cụ lao động quen thuộc của người nông dân như: “mai, cuốc, cần câu”. “Mai” là một vật dụng dùng để cắt đất sét, loại đất bùn nhưng không nhưng rất dính, thuờng người ta không thể dung cuốc để cuốc vận chuyển, di dời loại đất này được nên phải dùng dến “mai” hay còn gọi là kéo dùng để cắt  loại đất này. “Cuốc” cũng là một công cụ lao động còn “cần câu” là công cụ để câu cá, là thú vui nông nhàn của người nông dân xưa. Câu thơ: ‘Thơ thẩn dầu ai vui thú nào?” là câu hỏi của tác giả với người đọc ông hỏi rằng khi rảnh rỗi thì nên chơi loại nào, câu thơ cũng có ý sắp xếp là mỗi người một sở thích khác nhau nên công việc và công cụ thực hiện vì thế mà cũng khác nhau. Hai câu đề mở đầu bài thơ nói về sự an nhàn của tác giả khi lui xa chốn triều chính trở về quê an nhàn, tìm thú vui khi ẩn giật.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Thương vợ của thi sĩ Tú Xương

Tiếp theo tác giả viết hai câu thực:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao”

Câu thơ đầu nói về cách sống, quan niệm sống của tác giả, ông luôn sống theo ý mình, trái vời lẽ tự nhiên và cuộc sống của những con người khác trong xã hội, thường thì người ta sẽ vồ vập, lao đến những nơi phồn hoa đô hội để làm nghề kiếm sống, để mưu sinh kiếm lời. Nhưng riêng với tác giả thì ngược lại, ở trong câu thơ đầu tác giả tự nhận mình là người “dại” nên chỉ tìm đến chỗ vắng vẻ để sống còn ví những người khác trong thiên hạ là những “người khôn” họ luôn tifm đến chỗ “lao xao” để sinh sống. Tác giả tạo hai vế đối tương xứng trong hai câu thơ: “ta dại” với “người khôn” và “nơi vắng vẻ” với “chốn lao xao” cho thấy cách sồn, cách nhìn nhận cuộc sống của tác giả khác hòan toàn so với hiện tại xã hội mà con người sinh sống, ông thích sống ẩn mình thanh tịnh, hòa hợp với tự nhiên. Tác giả dùng cách xưng hô “ta” với “người” thể hiện sự cao ngạo với đời, khinh thường những con người thấp hèn ý nghĩ lông cạn, xô bồ.

phan tich bai tho nhan cua nha tho nguyen binh khiem - Phân tích bài thơ Nhàn của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phân tích bài thơ Nhàn

Khép lại hai câu thơ thực đến với hai câu luận của tác giả:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Tác giả vẽ nên cuộc sống, sinh hoạt bốn mùa của mình qua việc liệt kê hàng loạt những món ăn từ tự nhiên là “măng” là “giá”. Mùa “thu ăn măng trúc”, mùa “đông ăn giá” đây là những món ăn từ tự nhiên tuy đạm bạc, đơn sơ, nghèo dinh dưỡng nhưng thể hiện tâm hồn sống hòa mình vào thiên nhiên của tác giả, tuy đạm bạc mà thanh cao, tinh khiết. Đời sống sinh hoạt của tác giả được miêu tả trong không gian của “hồ sen” và “ao”, mùa “xuân” lạnh thì “tắm hồ sen”, mùa hè chuyển sang “tắm ao” cho mát mẻ qua đây thể hiện nhân cách sống cao đẹp của tác giả giữa thời phân tranh ông cáo quan về quê sống cuộc sống ẩn mình hòa nhập với tự nhiên, an lòng trong nghèo khó, thiếu thốn.

Xem thêm:  Cảm nhận về bài thơ Tự Tình

Cuối cùng đến với hai câu kết tác giả thể hiện rõ lối sống thanh cao của mình vượt lên trên cái ở đời là vinh hoa, phú quý. Ông kết:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Thi sĩ khi về ở ẩn thường có những thú vui tao nhã như: câu cá, gẩy đàn, uống rượu, ngắm trăng,… và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vậy đi là sẽ mang bên mình hũ rượu và chọn chỗ dừng chân để nhâm nhi với cảnh, với thiên nhiên đầy sắc màu, ông uống bên cội “cây”. “Uống” ở đây không phải để say mà để nghẫm nghĩ nên không phải đi đâu, đến đâu cũng uống mà là phải đến đúng chỗ “cội cây”. Câu thơ cuối tác giả nhắc đến “phú quý” nhưng lại được gắn liền với “chiêm bao” tức là giấc mơ ý nói giờ đây đối với bản thân tác giả những thứ vinh hoa, phú quý ông không còn mơ mộng đến, thực tại cuộc sống của ông đang rất đầy đủ, ổn định, sống dựa vào tự nhiên, chan hòa với thiên nhiên nên những thứ cao sang kia thực sự là không bao giờ cần đến.

Bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phần nào cho người đọc thấy được lối sống “ngược” với đời của tác giả, ông ở ẩn lấy thú vui trong lao động, hòa mình vào thiên nhiên để an nhàn, để thanh tịnh lùi xa chốn phồn hoa đô hội giữ cho mình cốt cách thanh cao.

Xem thêm:  Suy nghĩ về bài thơ nhàn

Hằng

Post Comment