Văn mẫu lớp 9

Phân tích bài thơ chạy giặc

Phân tích bài thơ chạy giặc

Tổng hợp những bài làm văn Phân tích bài thơ chạy giặc hay nhất của các bạn học sinh giỏi văn đạt điểm cao. Mời các bạn đọc tham khảo và dựa vào đây viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ chạy giặc thật hay. Chúc các bạn luôn luôn học tập tốt.

Phân tích bài thơ chạy giặc – Bài làm 1

Nói như cách nói của Phạm Văn Đồng thì Nguyễn Đình Chiểu chính là một ngôi sao lớn của dân tộc nhưng “con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy”. Bởi lẽ Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là tác giả cả truyện thơ Lục Vân Tiên nức tiếng miền Nam ca ngợi những đạo lí con người. Cụ Đồ đáng quý ấy còn là ngòi bút tiên phong trong phong trào kháng Pháp những ngày đầu tiên chúng xâm lăng bờ cõi. Bài thơ Chạy giặc là một trong những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu ở dòng thơ yêu nước. Bài thơ được sáng tác ngay sau khi Pháp tấn công thành Gia Định ngày 17 -02- 1859.

Xuất thân là một nhà nho trung hiếu nhưng không giống với những nhà nho lỗi thời, Nguyễn Đình Chiểu không trung quân ái quốc theo kiểu cúi đầu chờ lệnh vua nữa mà với ông, ái quốc của nghĩa là đứng về phía nhân dân. Giữa lúc bờ cõi bị lăm le mà minh quân còn chưa thấy, cụ Đồ đã cầm bút mà kháng chiến. Thơ văn của ông làm sống dậy một thời đại đau thương của lịch sử dân tộc trong buổi đầu kháng Pháp.

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây

Một bàn cờ thế lúc sa tay”

Với hai câu thơ đầu, nhà thơ đã diễn tả cảnh đất nước rơi vào tay giặc bằng khung cảnh và thời điểm cụ thể. “Tan chợ” là thời gian buổi chiều, lúc người bán đã hết gánh hàng và người mua hài lòng trở về nhà. Buổi chiều là lúc khói bếp tỏa hương ấm áp, mọi người chờ đợi một mâm cơm đoàn tụ cũng là lúc lũ trẻ ra sân chơi đùa cùng nhau, những cụ già tản bộ trên đường. Ấy vậy mà “tiếng súng Tây” đã xe tan đi cái bầu không khí yên tĩnh, an lành của đời thường, báo hiệu những chuỗi ngày bất thường đã đến. Nhà thơ không sợ hãi hay nói bóng gió mà chỉ đích danh kẻ thù mới của nhân dân “Tây”, một kẻ thù nguy hiểm và tân tiến dùng vũ khí là súng để tấn công những người dân trong tay không tấc sắt.

Khung cảnh bọn thực dân xâm lăng đất nước ta được tác giả ví như “bàn cờ thế lúc sa tay” có nghĩa là một sự thất bại phút chốc, không thể cứu vãn cũng không thế xoay chuyển tình thế được.

Đau đớn nhất, tan thương nhất là bốn câu thơ tiếp theo, Nguyễn Đình Chiểu đã tập trung khắc họa cảnh chạy giặc của nhân dân.

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

Mất ổ bầy chim dáo dác bay”

Giặc đến, mọi người đều hoảng sợ, mọi vật đều hoang mang và tan tác. Nguyễn Đình Chiểu không vẽ toàn bộ bức tranh đau thương ấy mà dùng vài nét phác họa bằng hình ảnh chọn lọc “Lũ trẻ, bầy chim”. Trẻ con đáng lẽ phải được sống trong yên bình, yêu thương vì chúng nào có tội. Bầy chim ngoài việc cất tiếng hát líu lo cho đời thì chúng có biết đến chiến tranh là gì. Vậy mà hai thứ đáng yêu nhất lại chịu những nỗi đau lẽ ra không thuộc về chúng. Cuộc chiến tranh nào cũng vậy, vì lợi ích của những người cầm quyền mà bao nhiêu máu của người vô tội đổ xuống. Biện pháp đảo ngữ “bỏ nhà lũ trẻ,mất ổ bầy chim” kết hợp với các từ láy “lơ xơ, dáo dác” nhấn mạnh khung cảnh chia lìa, hốt hoảng, ngơ ngác khi giặc đến bất ngờ.

Giặc không chỉ đến trong phiên chợ mà còn ở khắp miền Nam, hai địa danh Đồng Nai và Bến Nghé vốn nổi tiếng là trù phú nay lại thất thủ trước họng súng của kẻ thù

“Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”

Nhà thơ không trực tiếp tố cáo tội ác của giặc nhưng thông qua hai hình ảnh “tan bọt nước, nhuốm màu mây” cũng đủ để hình dung được sự tan tóc, đau thương trước cảnh hoang tàn dưới gót giày đinh và lưỡi lê gớm máu. Bao nhiêu sinh linh đồ thán, máu đã nhuộm dòng sông xanh Bến Nghé, xác đã ngã xuống đất Đồng Nai, mọi vật nhuốm màu tang tóc, bi ai. Phép đối giữa hai câu thực và hai câu luận càng làm tăng sự tàn khốc của chiến tranh, nói đúng hơn là tội ác của kẻ xâm lăng đổ xuống đầu người dân vô tội.

Hai câu thơ kết, Nguyễn Đình Chiểu đã trực tiếp bộc lộ thái độ của mình trước cảnh đất nước loạn li. Giặc đến tàn phá là thế, nhân dân khốn cùng là thế mà “trang dẹp loạn” chẳng thấy tăm hơi.

“Hỡi trang dẹp lại rày đâu vắng

Há để dân đen mắc nạn này”

Câu hỏi tu từ kết thúc bài thơ chính là nỗi lòng tê tái của tác giả. Trang dẹp loạn mà nhà thơ nhắc đến phải chăng là một Lục Vân Tiên giữa đàng gặp chuyện bất bình bẻ cây làm gậy hay một trang hào kiệt đứng ra lãnh đạo nhân dân dẹp loạn như Quang Trung, Lê Lợi? Họ là những kẻ trên ngôi cao, quyền quý, ăn lộc của dân, sống sung sướng nhờ vào mồ hôi nhân dân đổ, vậy mà họ lại thờ ơ, vô trách nhiệm trước nỗi thống cùng của dân đen. Mặc dù là câu hỏi nhưng thái độ mà nhà thơ thể hiện lại là sự trách móc, lên án sự nhu nhược của triều đình Huế. Họ yên hơi lặng tiếng trước lời kêu gào oán than cả dân chúng vì họ yếu hay vì lo cho quyền lợi của giai cấp mình.

Xem thêm:  Nghị luận về vấn đề tự lực cánh sinh, cần cù lao động – Ngữ Văn 9

Đứng trước cảnh tang thương, lòng người thi sĩ cũng sầu thảm vô cùng. Hon ai hết, ông đau nỗi đau của dân, lo cái lo của dân và gánh chịu những mất mát mà người dân phải chịu. Có lẽ thế những vần thơ của cụ Đồ nghe đau đáu, bi ai.

Mặc dù thể thơ thất ngôn bát cú trung đại nhưng Nguyễn Đình Chiểu lại đưa vào đó những hình ảnh rất thực bằng từ ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói của quần chúng lao động. Việc lựa chọn hình ảnh tiêu biểu kết hợp với tính khái quát của từ ngữ đã giúp nhà thơ tái hiện lại chân thực khung cảnh đất nước ta buổi đầu Pháp đến. Thông qua câu hỏi tu từ và biện pháp đối lập, nỗi lo lắng và tình cảm của nhà thơ dành cho nhân dân cũng được thể hiện sâu sắc.

Qua bài thơ chúng ta thấy được một cuộc đấu tranh bền bĩ và cũng không kém phần cam go của nhà thơ cầm bút kháng chiến. Có thể khẳng định rằng Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn đồng thời là chí sĩ yêu nước mà cả cuộc đời ông là tấm gương sáng về đạo nghĩa ở đời

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

Phân tích bài thơ chạy giặc – Bài làm 2

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỉ 19. Mắt bị mù lòa giữa thời trai trẻ, con đường, công danh sự nghiệp dở dang, nhưng ông đã không chịu khoanh tay trước những bất hạnh cay đắng. Ông đã mở trường dạy học, làm thầy thuốc săn sóc sức khỏe của nhân dân, viết văn làm thơ, tiếng tăm lừng lẫy, trở thành ngôi sao sáng trong nền văn nghệ Việt Nam cuối thế kỉ 19.

Tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với những truyện thơ đậm đà màu sắc cổ điển như truyện “Lục Vân Tiên", truyện "Ngư Tiều y thuật vấn đáp"… Đỉnh cao về tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu là những bài văn tế, những bài thơ yêu nước như "Chạy giặc”, "Xúc cảnh", “Văn tế Trương Công Định", "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, v.v…

Đánh giá giá trị các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong những năm thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ, có ý kiến khẳng định: “Sáng tác của ông sống dậy và hướng tới chúng ta như những bài ca yêu nước…”.

Nếu các truyện thơ "Lục Vân Tiên", “ Ngư Tiều y thuật vấn đáp"…. sáng ngời tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp thì những bài văn tế, những bài thơ như "Chạy giặc” đã làm "sống dậy và hướng tới chúng ta như những bài ca yêu nước… Thơ, văn tế của Nguyễn Đình Chiểu  “ca ngợi những người anh hùng, suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân. Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả, thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước.'' (Phạm Văn Đồng).

Khi Tổ quốc bị xâm lăng “súng giặc đất rền", những người áo vải chân đất "dân ấp dân lân” đã quật khởi đứng lên đánh giặc với ý chí căm thù sôi sục:

"Bữa thấy bòng bong che trắng lấp, muốn tới ăn gan,

Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ"

Họ đánh giặc là để bảo vệ "tấc đất ngọn rau", để giữ lấy “bát cơm manh áo ở đời” Vì thế, chỉ một lưỡi dao phay, một gậy tầm vông cũng ào ào xung trận. Tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang lẫm liệt:

“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia,

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ."

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Đất nước quê hương bị giặc Pháp giày xéo, tuy bị mù lòa, ông vẫn dùng ngòi bút và tấm lòng tham gia đánh giặc. Ông gọi lòng trung nghĩa của mình là "lòng đạo" chung thủy, sắt son, sáng ngời:

“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,

Lòng đạo xin tròn một tấm gương"

Có thể nói, những câu văn, vần thơ của Nguyễn Đình Chiểu chứa chan tinh thần yêu nước, đã làm "sống dậy và hướng tới chúng ta như những bài ca yêu nước… Vì thế mà niềm mơ ủớc của ông vẫn là niềm mơ ước của hàng triệu con người Việt trong thế kỉ qua:

“Chừng nào thánh để ân soi thấu,

Một trận mưa nhuần rửa núi sông.''

(Xúc cảnh)

Bài thơ “Chạy giặc" là một bài ca yêu nước chống xâm lăng. Năm 1859, thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định. Đất nước rơi vào thảm họa – Nguyễn Đình Chiểu viết bài thơ “Chạy giặc" bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật ghi lại sự kiện bi thảm này.

Hai câu đề nói lên thời cuộc và thế nước. Giặc Pháp tấn công thành Gia Định vào lúc “tan chợ":

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,

Một bàn cờ thế phút sa tay"

Cảnh họp chợ, cảnh tan chợ là nhịp sống yên bình của nhân dân ta. Tiếng súng Tây bất ngờ nổ rền trời đã làm cho nhịp sống ấy bị đảo lộn. Cảnh chiến tranh đã bắt đầu. "Một bàn cờ thế” là hình ảnh ẩn dụ nói về thời cuộc, về cuộc chiến giằng co, ác liệt. Ba tiếng “phút sa tay” trong câu thơ “Một bàn cờ thế phút sa tay” nói lên sự thất thủ của quân Triều đình tại thành Gia Định diễn ra quá nhanh chóng. Hai câu thơ đầu như một thông báo về sự kiện lịch sử bi thảm diễn ra vào năm 1859. Đằng sau câu thơ là nỗi lo lắng và kinh hoàng của nhà thơ trước thảm họa quê hương đất nước thân yêu của mình bị giặc Pháp chiếm đóng và giày xéo.

Hai câu trong phần thực đối nhau, phép đảo ngữ được vận dụng sắc sảo: Vị ngữ “bỏ nhà" và “mất ổ được đặt lên đầu câu thơ nhằm nhấn mạnh nỗi đau thương tang tóc của nhân dân ta khi giặc Pháp tràn tới:

Xem thêm:  Ô- trốp-xki từng nói: “Hãy biết sống ngay cả những khi cuộc sống trở nên không chịu đựng nổi.”

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,

Mất ổ, đàn chim dáo dát bay"

Nếu viết "Lũ trẻ bỏ nhà lơ xơ chạy" và “Đàn chim mất ổ dáo dát bay” thì ý vị câu thơ và giá trị biểu cảm sẽ không còn gì nữa! từ láy “lơ xơ” và “dáo dát" gợi tả sự hoảng loạn và kinh hoàng đến cực độ. Cảnh trẻ con lạc đàn, chim vỡ tổ là hai thi liệu chọn lọc, điển hình theo cách nói của dân gian tả cảnh chạy giặc vô cùng thảm thương.

Hai câu luận, ý thơ được phát triển và mở rộng. Tác giả lên án tội ác của giặc Pháp càn quét, đốt nhà, giết người, cướp của tàn phá quê hương. Phép đối và đảo ngữ được vận dụng sáng tạo. Nhà thơ không viết: “Cửa tiền Bến Nghé tan bọt nước" và “Tranh ngói Đồng Nai nhuốm mầu mây", mà viết:

"Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây"

Câu thơ đã vẽ lên một vùng địa lý bao la và trù phú (Bến Nghé, Đồng Nai) phút chốc biến thành đống tro tàn. Bến Nghé, Đồng Nai trong thế kỉ 19 vốn đã là vựa lúa và nơi buôn bán sầm uất trên bến dưới thuyền thế mà đã bị giặc Pháp cướp phá tan hoang. Tiền của, tài sản của nhân dân ta bị giặc cướp phá sạch ‘'tan bọt nước". Nhà cửa xóm làng quê hương nhà thơ bị đốt cháy, lửa khói nghi ngút “nhuốm màu mây". Hai hình ảnh so sánh "Tan bọt nước" và “nhuốm màu mây" là cách nói cụ thể của dân gian đặc tả cảnh điêu tàn do giặc Pháp gây ra.

Có thể nói hai cặp câu trong phần thực và phần luận là tiếng nói căm thù của nhà thơ lên án tội ác giặc Pháp xâm lược. Người đọc cảm nhận một cách sâu sắc bài thơ “Chạy giặc" đã làm "sống dậy và hướng tới chúng ta như những bài ca yêu nước”.  Các nhà thơ Việt Nam sau này đã học tập và kế thừa Nguyễn Đình Chiếu  để viết nên những vần thơ căm giận quân xâm lược:

“Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới

Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau”

( Núi Đôi – Vũ Cao)

"Giặc về giặc chiếm đau xương máu,

Đau cả lòng sông, đau cỏ cây”

(Quê mẹ -Tố Hữu)

Trong hơn một thế kỷ qua, có biết bao xương máu của nhân dân đã đổ xuống vì bom đạn lũ xâm lược. Cho nên tiếng nói căm thù là cảm xúc chủ đạo của các bài thơ yêu nước.

Trở lại hai câu kết bài “Chạy giặc", ta xúc động trước câu hỏi của nhà thơ:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,

Nỡ để dân đen mắc nạn này?"

Trang dẹp loạn" cũng là trang anh hùng hào kiệt. “Rày đâu vắng": hôm nay, bữa nay đi đâu mà không thấy xuất hiện? Nhà thơ vừa trách móc quan quân Triều đình hèn yếu, thất trận để giặc chiếm đóng quê hương, vừa mong đợi người anh hùng tài giỏi ra tay đánh giặc để cứu nước cứu dân thoát khỏi cảnh lầm than.Câu kết chứa đựng biết bao tình yêu thương của Nguyễn Đình Chiểu đối với nhân dân đang quần quại trong bom đạn giặc! “Chạy giặc" là bài ca yêu nước mở đầu cho thơ văn yêu nước của dân tộc ta từ cuối thế kỷ 19.

Bài thơ “Chạy giặc" được viết bằng một thứ ngôn ngữ bình dị, dân dã đậm đặc màu sắc Nam Bộ (lũ trẻ lơ xơ, ổ, dáo dát, tan bọt nước, nhuốm màu mây, rày, nỡ, dân đen). Phép đối, phép đảo ngữ, ẩn dụ so sánh là những biện pháp nghệ thuật được tác giả vận dụng sáng tạo để viết nên những vần thơ hàm súc, biểu cảm.

“Chạy giặc" là bài thơ mang giá trị lịch sử to lớn. Nó ghi lại sự kiện đau thương của đất nước ta cuối thế kỷ 19. Nó là bài ca yêu nước căm thù giặc" sống dậy và hướng tới chúng ta khát vọng độc lập, tự do".

Phân tích bài thơ chạy giặc – Bài làm 3

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam, ông là gương mặt nhà thơ tiêu biểu trong phong trào văn chương yêu nước chống thực dân xâm lược khu vực Nam Bộ, ông để lại rất nhiều những sáng tác hay có tính đấu tranh mạnh mẽ, chống lại thực dân Pháp xâm lược, và bài thơ “Chạy giặc” là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông. Bài thơ này tái hiện được chân thực khung cảnh xã hội Việt Nam khi thực dân Pháp xâm lược, đó là khung cảnh hoang tàn, bi đát trước sự tàn phá của đội quân xâm lược. Đồng thời bài thơ này cũng thể hiện được rõ nét thái độ chán ghét, căm thù của tác giả Nguyễn Đình Chiểu với quân Pháp.

Năm 1958 Thực dân Pháp đã nổ súng, mở đầu cho công cuộc xâm lược dân tộc ta, từ Đà Nẵng chúng đã mở rộng đánh chiếm vào khu vực Gia Định, trước thực trạng xâm lược tàn bạo của thực dân Pháp, nhân dân ta bị đẩy vào bước đường lầm tham, đau khổ đến cùng cực. Nguyễn Đình Chiểu vốn là một nhà văn giàu lòng yêu nước nên khi chứng kiến thực trạng ấy đã không khỏi đau xót, thương tâm. Càng yêu nước bao nhiêu thì lòng căm tù giặc càng lớn bấy nhiêu, và trong hoàn cảnh ấy, tình cảm ấy nhà thơ đã viết bài thơ “Chạy giặc” vừa là để tái hiện lại thời thế hỗn loạn, nhân dân lầm tham vừa là để thể hiện lòng căm thù sâu sắc của mình đối với đội quân xâm lược.

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng tây

Một bàn cờ thế phút sa tay”

Mở đầu bài thơ, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã tái hiện lại không khí đầy dữ dội khi tiếng súng Tây làm cho mọi người trở nên hoảng loạn, mọi vật đều nhuốm màu bi thương. Không gian mà nhà thơ tái hiện đó chính là không gian của một khu chợ, và thời điểm được gợi nhắc đến đó chính là thời điểm “tan chợ”, lúc này chính là lúc người người đang tấp nập rủ nhau ra về sau buổi chợ. Khi ấy thì tiếng súng Tây bắt đâu nổ dồn, đây là sự hủy diệt tàn bạo của lũ giặc cướp nước, bởi chúng nhằm vào thời điểm con người mất cảnh giác nhất, tập trung đông đúc nhất để nổ súng, sát hại người dân ta. Ở đây tác giả vừa thể hiện được hành động tàn bạo, vô nhân tính của quân Pháp, vừa thể hiện được thái độ căm thù của mình với chúng.

Xem thêm:  Đề 55 – Bàn về vấn đề tự giáo dục – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9

Hai từ “súng Tây” đã thể hiện được điều đó, tác giả không lên án trực tiếp bọn thực dân Pháp mà gọi chúng với cái tên đầy coi thường, bọn Tây, tức những người khác chúng ta về chủng tộc, mang trong mình âm mưu thâm độc, thấp hèn đáng coi thường, chúng dùng bạo lực chèn ép dân ta, hành động thật đáng lên án. Trong một tác phẩm khác của mình, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng thể hiện được thái độ căm thù khôn siết của mình đối với bọn giặc “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Tiếng súng Tây đột ngột nổ dồn khiến cho mọi người có mặt trong khung cảnh ấy hoảng loạn, sợ hãi “Một bàn cờ thế lúc sa tay”. Câu thơ này có thể hiểu là những người chơi cờ vì bị tiếng súng làm cho giật mình mà làm sa những quân cờ xuống bàn cờ.

Hoặc ta cũng có thể hiểu bàn cờ thế lúc sat ay này chính là thực trạng của Việt Nam lúc bấy giờ, là lúc dân tộc ta đang thất thế trước quân giặc, chúng đã lợi dụng tình hình bất ổn của đất nước ta mà nhảy vào xâm lược, gây ra bao nhiêu cảnh đau khổ. Khung cảnh khi có tiếng súng Tây cũng thật hỗn loạn, xơ xác, không chỉ con người mà ngay cả những loài vật cũng hoảng loạn, tìm đường chạy chốn, ẩn náu:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

Đó là cảnh những đứa trẻ vì bị tiếng súng dọa cho giật mình, sợ hãi mà bỏ nhà chạy toán loạn, muốn chạy trốn tiếng súng cũng như sự hủy diệt đáng sợ ấy “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy”, chúng mới chỉ là những đứa con nít, hàng ngày phải sống trong khung cảnh dữ dội, hủy diệt của bom đạn quả thực vô cùng đáng thương, chúng đang ở tuổi hồn nhiên nhất của cuộc đời, là những lúc vô lo, vô nghĩ nhất nhưng lại sinh ra trong giai đoạn đất nước đầy biến động, bạo loạn. Không chỉ có lũ trẻ sợ hãi, mà ngay cả những loài vật trong tự nhiên cũng bị sự hủy diệt của kẻ thù mà mất đi nơi sinh sống, hoảng loạn mà bay dáo dác khắp nơi để tìm chỗ trú ẩn. Không khí mà nhà thơ gợi ra ở đây thật hỗ loạn, bi thương.

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”

Bến Nghé, Đồng Nai là những địa danh của Gia Định, khi quê hương, xứ sở của mình bị xâm phạm, thì ngay cả những thứ vô tri như bến nước, dòng sông dường như cũng bị lay động, chúng dường như thế hiện được sự đồng cảm của mình với thực cảnh của đất nước. Sự dữ dội của khung cảnh chiến tranh, những bọt nước ở Bến Nghé cũng vỡ tan, khung cảnh yên bình nơi bến nước không còn, sự vỡ tan ấy cũng như sự phẫn nộ của đất trời, thiên nhiên vô tri trước tội ác của quân giặc. Dòng sông Đồng Nai cũng bị nhuốm màu của bi thương, đau khổ, đó chính là sự đồng cảm, hòa quyện giữa thiên nhiên và lòng người. Đọc đến câu thơ này tôi chợt nhớ đến một câu thơ của nhà thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, đúng như vậy, những vật vô tri này có thể bị hiện thực dữ dội tàn phá hoặc nó được cảm nhận trong dòng tâm trạng phẫn nộ, đau đớn của nhà thơ.

“Hỏi trang dẹp loạn này đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc nạn này”

Đau lòng trước thực trạng đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, lòng người đau đớn vì sự bạo tàn Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện sự băn khoăn, trăn trở cũng là sự trách móc thầm kín đối với triều đình bất lực, vô dụng nhà Nguyễn. Trong lịch sử, mỗi khi đất nước có chiến tranh thì lại xuất hiện những con người tài giỏi, những vị tướng tài ba, những trang dẹp loạn vĩ đại. Nhưng vào thời điểm này, trang dẹp loạn nơi nào vẫn chưa xuất hiện, nhà thơ như tự hỏi mình, câu hỏi không có câu trả lời. Đồng thời nhà thơ cũng hướng sự trách móc, phê phán của mình đến triều đình nhà Nguyễn, khi chỉ biết đến lợi ích của mình mà nhu nhược, nhún nhường trước quân bạo tàn, để chúng gây ra bao nhiêu đau khổ cho dân đen như vậy.

Bài thơ “Chạy giặc” của Nguyễn Đình Chiểu là bài thơ tái hiện được chân thực và sống động một thời kì biến loạn, đau thương của đất nước, của dân tộc. Đồng thời cũng thể hiện được một tấm lòng yêu nước sâu sắc, lòng căm thù giặc của chính nhà thơ. Đó chính là những cảm xúc thực, tình cảm thực của tác giả khi đất nước có biến loạn.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Phân tích bài thơ chạy giặc hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ chạy giặc thật hay và đạt được kết quả cao.

Post Comment