Văn mẫu lớp 9

Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt – 3 bài văn hay nhất ngắn gọn lớp 9

“Rồi sớm rồi…… dai dẳng” Bài thơBếp lửa” giản dị và chan chứa cảm xúc như vậy. Đây vừa là tình cảm của người cháu dành cho bà, cũng là tình cảm dành cho quê hương đất nước. Khi phân tích tác phẩm, chúng ta cần chú ý phân tích dòng cảm xúc của tác giả khi nhớ về hình ảnh người bà cũng như những biện pháp nghệ thuật độc đáo mà tác giả đã sử dụng. Dưới đây là một số bài viết tham khảo, chúc các bạn học tốt!

BÀI VĂN SỐ 1 PHÂN TÍCH BÀI THƠ BẾP LỬA – BẰNG VIỆT LỚP 9

Quê hương là nơi yên bình và đẹp đẽ, nơi lưu giữ những kỷ niệm thở ấu thơ, nơi có gia đình, có căn bếp thân thương nồng khói. Để mỗi khi ta đi xa, lại man mác nhớ về và viết lên những vần thơ thật đẹp. “Bếp lửa” của Bằng Việt là một trong những bài thơ như vậy.

Bằng Việt là một nhà thơ thuộc thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, lời thơ ông giản dị mộc mạc mà thấm đượm ý tình. Bài thơ “Bếp lửa” được tác giả sáng tác năm 1963 khi ông đang học tập ở Nga, dưới trời đông lạnh lẽo xứ Moskva, trong lòng Bằng Việt dâng lên một nỗi nhớ quê hương sâu sắc. Đây cũng là một trong những bài thơ xuất sắc nhất của ông, in trong tập “Hương cây- bếp lửa”.

  • “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
  • Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa trong sương sớm đã khơi nguồn cảm xúc của người cháu về bà. Bếp lửa là hình ảnh quen thuộc, thân thương trong mỗi gia đình Việt Nam lúc bấy giờ, được nhắc lại hai lần trong hai dòng thơ liên tiếp. Hình ảnh ấy đã vẽ ra trong tâm trí của tác giả những mảnh kí ức thân thuộc và đẹp đẽ nhất, về người bà kính yêu và về bếp lửa ấm áp tình bà. Từ láy “chờn vờn” đã gợi nên một không gian mờ nhòa, làn khói nhẹ sớn mai len lỏi quanh bếp với ánh lửa chập chờn như một thước phim nhòe mờ của kí ức theo thời gian. “Ấp iu” có lẽ được ghép từ “ấp ủ” và “nâng niu”, đây là sự sáng tạo mới mẻ của tác giả, làm hi lên bàn tay kiên nhẫn, tỉ mỉ, sự tần tảo chịu khó của bà trong công việc nhóm bếp giữ lửa, cũng chính là tấm lòng chan chứa tình yêu thương của bà dành cho cháu, lo cho cháu những gì tốt đẹp nhất. Hình ảnh bếp lửa đợc tác giả gợi lên qua nhiều giác quan, thị giác “chờn vờn sương sớm”, cảm xúc “ấp iu nồng đượm”, sống lại toàn vẹn trong miền kí ức của người cháu, khơi nên một tình cảm da diết nhớ thương:

  • “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”

Lời bày tỏ ấy vừa là cảm xúc, sự kính trọng bà của người cháu cũng vừa gợi ra những vất vả hy sinh, lo toan của bà qua hình ảnh ẩn dụ “biết mấy nắng mưa”. Những dòng thơ tiếp theo, Bằng Việt với giọng thơ tâm tình giản dị đã kể lại những kỷ niệm sống bên bà năm 4 tuổi cùng với hình ảnh bếp lửa thân thương. Đó là những năm đất nước trải qua nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã ám ảnh tâm hồn cháu, “đã quen mùi khói”, “khói hun nhèm mắt” với những năm tháng “đói mòn đói mỏi”. Kí ức ấy hiện lên qua hình ảnh “Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy”. Ấn tượng sâu đậm nhất có lẽ là làn khói bếp, cũng là sự ám ảnh của những năm tháng cơ cực, khó nhọc của tuổi thơ. Câu thơ như lời kể men theo dòng kí ức, bà vẫn ngày ngày nhóm ngọn lửa ấm áp xua đi cái giá lạnh. Khói bếp xộc lên mũi cay xè, nước mắt giàn ra, vị cay của khói bếp nhà nghèo.

  • “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
  • Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
  • Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”

Phụ từ “rồi” kết hợp với các từ ngữ chỉ thời gian “sớm, chiều” và động từ “nhen” đã nhấn mạnh sự tần tảo, chịu thương, chịu khó đầy nhẫn nại của bà, đó không chỉ là kể lại sự việc mà còn gắn chặt với mạch cảm xúc của tác giả. Ngọn lửa mang những ý nghĩa rộng lớn, ấm áp tình thương con cháu, niềm tin dai dẳng vào tương lai. Bà không chỉ là người nhóm lửa mà còn là người truyền lửa, bà hiện lên như bếp lửa hồng sưởi ấm lòng cháu, đây là một hình ảnh ẩn dụ mang ý nghĩa biểu tượng. Mạch cảm xúc của cháu đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỷ niệm nâng lên thành suy ngẫm. Từ láy “lận đận” được đưa lên đầu câu khắc sâu cuộc đời đầy lam lũ, vất vả của bà. “Mấy chục năm” là một khoảng thời gian dài đủ để có sự thay đổi nhưng bà vẫn giữ thói quen nhóm bếp, đó là cách duy trì cuộc sống của hai bà cháu, là “niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi”, “nồi xôi gạo mới, sẻ chung vui”. Điệp từ nhóm được lặp lại 4 lần và cash bộc lộ cảm xúc trực tiếp qua thán từ “ôi” của tác giả đã cho ta thấy bếp lửa “kỳ lạ và thiêng liêng” biết chừng nào. Và kết thúc bài thơ là mạch cảm xúc thực tại khi cháu đã đi xa với “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”, sự ấm no nơi phương xa không làm vơi đi nỗi nhớ bà, sự chăm sóc của bà là động lực để cháu trưởng thành. Hình ảnh bếp lửa xuất hiện ở đầu và cuối bài thơ tạo kết cấu đầu cuối tương ứng, gợi nên một thước phim cũ hoàn chỉnh của quá khứ và tuổi thơ nghèo mà ấm áp, một thời khổ cực gian nan nuôi ý chí nghị lực vươn lên trong cuộc sống.

Xem thêm:  Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh một lễ hội truyền thống lâu đời - Tết cổ truyền

Bài thơ “Bếp lửa” khép lại nhẹ nhàng mà tràn đầy dư vị, còn đọng lại mãi hình ảnh bà và bếp lửa, làn khói mờ ảo sớm mai, vừa là hình ảnh thực vừa là hifnha rnh ảo thể hiệ tình yêu của tác giả với bà, cũng là với quê hương đất nước. Từ một hình ảnh bình dị quen thuộc, Bằng Việt đã khắc họa chân thực những kỷ niệm và cảm xúc đong đầy.

bai tho bep lua - Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt - 3 bài văn hay nhất ngắn gọn lớp 9

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 PHÂN TÍCH BÀI THƠ “BẾP LỬA” HAY NGẮN GỌN LỚP 9

Bằng Việt là nhà thơ nổi tiếng trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Hoàn cảnh xa quê đã thôi thúc ông viêta lên những vần thơ thấm đượm tình cảm nồng hậu. Bài thơ “Bếp lửa” là một trong những sáng tác thành công trong sự nghiệp của ông.

Từ nơi xa, một bầu trời Âu chỉ bao phủ toàn tuyết trắng, người cháu như đang ngồi truo cs lò sưởi mà chạnh lòng nhớ về bếp lửa nơi quê nhà thân yêu. Bếp lửa gắn chặt với hình ảnh người bà, bếp lửa của một thời thơ ấu với nhiều kỉ niệm khó phai.

  • “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
  • Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
  • Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”

Nhớ về quê nhà, cháu nhớ về bếp lửa với những gì in bóng trong tuổi thơ cháu. Đó là hình ảnh của ngọn lửa nơi căn bếp nhỏ thân yêu. Ngọn lửa trong sáng sớm lay lắt, từ chờn vờn gợi một ánh lưa nhỏ bập bùng, lúc lên cao lúc xuống thấp. Nó còn gợi về hình ảnh của người nhóm lửa tần tảo sớm hôm. Từ “ấp iu” cho thấy sự cần mẫn, khéo léo của bà. Điệp từ “một bếp lửa” lặp lại hai lần, đập mạnh vào tri giác người đọc về hình ảnh của bếp lửa quê nhà, của người bà ngày đêm lam lũ. Gợi về bếp lửa, tất cả đọng lại là một chữ “thương”. Bà và bếp lửa, mối liên tưởng vô hình nhưng đầy dụng ý của tác giả. Và cặp hình ảnh này xuyên suốt bài thơ, gợi lại cho cháu tuổi thơ bên bà với nhiều kỉ niệm sâu sắc:

  • “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
  • Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
  • Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,
  • Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
  • Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
  • Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
  • Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
  • Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
  • Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.
  • Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
  • Mẹ cùng cha công tác bận không về,
  • Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
  • Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
  • Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
  • Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
  • Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

Tuổi thơ ấy có những bóng đen ghe rợn, những kỉ niệm buồn thương sâu đậm về nạn đói năm 1945. Đó là mùi khói hun nhèm mắt cháu, cay xộc của những đắng cay, vất vả, những rách nát, cơ cực lầm than mà bà đã nuôi nấng cháu từ chính những gì đau thương, mất mát, thiếu hụt ấy. Vậy là ngọn lửa tình bà gắn liền với mùi khói thân thương, mùi khói của sự hi sinh, tảo tần, cơ cực của cả một thời ấu thơ, gọi lại những tiếng tu hú kêu, những câu chuyện ấm áp bà kể. Thơ Bằng Việt có sức truyền cảm mạnh mẽ nhờ những chi tiết, tình cảm chân thật, giản dị như thế. Cái bếp lửa kỉ niệm của nhà thơ chỉ mới khơi lên, thoảng mùi khói mà đã đầy ắp những hình ảnh hiện thực, thấm đẫm biết bao nghĩa tình sâu nặng. Trong đói nghèo, trong vất vả, bên bêpa lửa nghèo củi ướt, bà và cháu đã yêu thương, cùng nhau chắt chiu, gom nhặt sự sống. Tuổi thơ cháu lớn lên bởi bàn tay yêu thương vô hạn của bà và điều ấy cháu không bao giờ quên.
Khổ thơ tiếp theo với những hình ảnh bà cháu và bếp lửa trong những năm tháng chiến tranh:

  • “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
  • Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
  • Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
  • Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
  • “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
  • Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
  • Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!.”

Cháu lớn dần, cuộc sống khó khăn hơn trước song nghị lực của bà vẫn bền vững, tấm lòng của bà vẫn nhân hậu mênh mang. Lời người bà dặn cháu thật nôm na nhưng chân thực và cảm động. “Bố ở chiến khu bố còn việc bố-Mày có viết thư chớ kể này kể nọ-Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”. Nhà mất, khó khăn lại càng nhiều nhưng bà không nản lòng. Bà vẫn vững lòng tin vào tương lai của cuộc kháng chiến mà một lòng bám đất bám quê, dặn cháu không được để bố lo lắng. Tấm lòng người bà thương con, thương cháu ân cần chu đáo biết bao. Đó cũng chính là phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam ta từ muôn thuở, luôn can đảm, bản lĩnh và cứng rắn trước nỗi đau của dân tộc, hi sinh tình riêng đặt tình chung lên trên. Đó chẳng phải là biểu hiện cao nhất của tình yêu quê hương đất nước đó ư. Ngọn lửa tàn ác của giặc có thể làm mất đi ngôi nhà của bà và cháu nhưng lại làm hồi sinh, nảy nở trong lòng bà một niềm tin sắt đá vào cách mạng. Cháy trong ngọn lửa thực kia còn là ngọn lửa của niềm tin, của ý chí mà bà nói riêng các bà mẹ Việt Nam anh hùng nói chung dành cho kháng chiến.
Khổ thơ tiếp theo, hình ảnh bếp lửa chuyển thành ngọn lửa lan tỏa mãnh liệt, chân thành của tình bà cháu:

  • “Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,
  • Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,
  • Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

Hình ảnh người bà sớm chiều bên bếp lửa thật ám ảnh, nó gợi lên vẻ đẹp tâm hồn cần mẫn, kiên trung, âm thầm lặng lẽ của người phụ nữ Việt ta bao đời nay sau lũy tre làng. Có sự thay đổi trong dụng ý nghệ thuật của nhà thơ, từ bếp lửa chuyển thành ngọn lửa. “Bếp lửa” với những ấm áp bình lặng của tình cảm gia đình, của tình bà cháu, đã trở thành ngọn lửa của trái tim, của niềm tin sức sống mãnh liệt con người. Tình thương và lòng nhân ái bao la của con người mãi ấm nóng, bền bỉ, tỏa sáng, trường tồn. Từ cảm xúc nhớ thương của đứa cháu nhỏ với bà, tác giả đã chuyển sang bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ của một thanh niên đã trưởng thành đối với người bà trong hiện tại:

  • “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
  • Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
  • Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
  • Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
  • Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
  • Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
  • Ôi kì lạ và thiêng liêng-bếp lửa.”

Chiến tranh đã đi qua, những gian khổ đã vơi bớt nhưng bà vẫn giữ thói quen dậy sớm, bếp lửa bà vẫn ấp iu nồng đượm như ngày nào. Điệp từ “nhóm” lặp lại 4 lần mang bốn nghĩa khác nhau, tỏa sáng dần nét kỳ lạ thiêng liêng và nhất là tình nghĩa của bà. “ Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm” ấy là bếp lửa có thật, có ánh sáng và hơi ấm. “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” hay cũng chính là bà mở rộng tấm lòng đoàn kết với xóm làng, quê hương. “Nhóm niềm yêu thương” có nghĩa là bà truyền cho cháu tình ruột thịt nồng đượm, ngọt ngào. Và cuối cùng người bà kì diệu ấy, nhóm dậy chính là thức tỉnh và bồi đắp cho đứa cháu về tâm hồn và nhân cách sống. Bà là người nhóm lửa, giữ lửa và truyền lửa để ngọn lửa ấy cháy sáng mãi mãi, trở nên bất diệt trong lòng cháu, là ngọn lửa của niềm tin, sức mạnh nâng đỡ cháu trong những phút yếu lòng. m điệu thơ dào dạt như sóng dồi, những từ láy “ấp iu”, “nồng đượm” càng làm tăng thêm tính biểu cảm và sức gợi cảm xúc của khổ thơ, giống như những con sóng lòng tha thiết bồi hồi cảu người cháu đang trào ra trên trang giấy. Để rồi, trong lặng nhẹ và dịu êm, những suy nghĩ thấm thía, sâu sắc của cháu sáng lên:

  • “ Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
  • Có lửa trăm nhà, có niềm vui trăm ngả
  • Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
  • -Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?.”

Dù sống xa nhà cuộc sống có đầy đủ tiện nghi nhưng tình cảm người cháu giành cho bà, về bà, về bếp lửa lúc nào cũng vậy. Vẫy cứ thiết tha, nồng đượm, mãnh liệt và dai dẳng. Câu hỏi tu từ khép lại bài thơ thật khéo thật hay, có sức ám ảnh, day dứt tâm hồn người đọc. Một lần nữa, bếp lửa của tình bà cháu lại cháy sáng trong trái tim và tâm trí người đọc.
Bằng cách sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ, những từ ngữ biểu cảm, tình cảm bà cháu đã được diễn tả thật xúc động và bồi hồi. Bài thơ chính là món quà quý giá Bằng Việt gửi đến cho người đọc, gửi đến độc giả những thông điệp quý báu về tình bà cháu, tình yêu đát nước thiêng liêng, sâu nặng, nuôi dưỡng tâm hồn con người muôn thuở. Chính điều ấy đã làm nên giá trị, vị trí của bài thơ trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ.

Bài thơ đã mang đến cho người đọc cảm nhận về tình bà cháu dung dị, thiêng liêng về vẻ đẹp của những người phụ nữ Việt Nam tảo tần giàu đức hi sinh. Từ đó ta thêm yêu, thêm tự hào về quá khứ đẹp đẽ của dân tộc. Bài thơ đã chạm đến tình cảm sâu kín tận đáy lòng của những người con xa quê và đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị.

beplua - Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt - 3 bài văn hay nhất ngắn gọn lớp 9

BÀI VIẾT SỐ 3 PHÂN TÍCH BÀI THƠ “BẾP LỬA”

Bằng Việt là một nhà thơ hiện đại nổi bật của thơ ca Việt Nam với những sáng tác mới mẻ, giàu cảm xúc. Cùng với Lưu Quang Vũ, nhà thơ đã chắp bút viết nên tập thơ đầu tay “Hương cây – Bếp lửa” đã gieo vào lòng người đọc biết bao xúc cảm, bồi hồi. “Bếp lửa” là một bài thơ nổi bật trong tập thơ ấy, là dấu ấn đặc sắc trong sự nghiệp văn chương, góp phần khẳng định tài năng, cảm quan nghệ thuật của nhà thơ Bằng Việt.

Những câu thơ đầu gợi ra dòng kỷ niệm tuổi thơ đẹp đẽ thắm đượm tình bà cháu. Dòng hồi tưởng về bà được nhà thơ bắt đầu khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa:

  • “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
  • Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
  • Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

Từ láy kết hợp đảo ngữ “chờn vờn sương sớm” đã tái hiện lại một cách chân thực hình ảnh bếp lửa thôn quê, mà ở đây chính là bếp lửa thân thương trong tuổi thơ người cháu xa quê. Bên cạnh hình ảnh thực, đó còn là một “bếp lửa ấp iu nồng đượm”. Bằng Việt đã khéo léo lựa chọn và sử dụng những từ láy giàu sức gợi tả, gợi cảm, không chỉ gợi cảm giác ấm áp từ bếp lửa buổi sớm, mà hơn thế, đó còn là sự ấm áp của lòng người, của tình thương yêu mà bà kiên trì vun vén, ấp ủ từng ngày. Những tính từ kết hợp cùng điệp từ “bếp lửa” đã gợi nên một cách sống động và cảm động hình ảnh bếp lửa, hình ảnh người bà ngồi nhóm bếp buổi sáng sớm – trang ký ức tuổi thơ thân thuộc, gần gũi của người cháu. Hình ảnh ấy đã dẫn đưa tâm hồn người cháu nhớ về những tháng ngày tuổi thơ còn nhiều thiếu thốn, cơ cực:

  • “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
  • Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
  • Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

Một mùa “đói mòn đói mỏi”, đó là ký ức đầu tiên hình ảnh bếp lửa gợi nhớ lại trong cháu về những tháng năm thuở bé ở bên bà. Nạn đói khiến cuộc sống trở nên cùng cực, khiến bố phải đi “đánh xe khô rạc ngựa gầy”. Gắn bó bên bà, bên bếp lửa thân quen, tự lúc nào cháu đã quen với mùi khói, như quen với cái khổ, cái đói, cái cùng cực của cuộc sống thuở đất nước khó khăn. Dòng hồi tưởng tiếp tục được gợi ra với tiếng “tu hú kêu trên những cánh đồng xa”. Trong bài thơ, ta bắt gặp tác giả nhắc đến tiếng chim tu hú đến năm lần cơ hồ như muốn nhắc đến một niềm khắc khoải, mơ hồ trong cuộc sống, trong lòng người giữa chốn mênh mông, bát ngát nhưng đượm buồn nơi làng quê ấy. Tuổi thơ ấy dù cho có nhiều cơ cực, khó khăn nhưng vẫn rất đẹp và đáng nhớ bởi cháu luôn có bà ở bên, được bà chở che, yêu thương, chăm sóc:

  • “Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
  • Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
  • Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
  • Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”

Hình ảnh “bà dạy”, “bà chăm” đã thể hiện cảm động sự tảo tần, lòng yêu thương vô bờ bến bà dành cho đứa cháu nhỏ thơ ngây, sự bao bọc, chăm chút hết mình cho cháu trong những tháng ngày khó khăn, cùng cực. Cả trong những ngày tháng gian khổ, hiểm nguy nhất khi phải gồng mình chống giặc, chống đói, người bà ấy vẫn mạnh mẽ, vững vàng, trở thành điểm tựa cho người cháu ở bên, cho con trai, con dâu công tác xa nhà. Để con nơi xa không lo lắng, bớt bận lòng nghĩ về bà cháu ở quê, bà “vẫn vững lòng dặn cháu đinh ninh/ Mày có viết thư chớ kể này kể nọ/ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”. Những câu thơ này đã phác họa trọn vẹn hình ảnh một người bà, người mẹ, người phụ nữ Việt Nam điển hình với nét đẹp tâm hồn sâu sắc. Tận đáy lòng bà mong sự bình yên nơi xa khi nghĩ về các con đang đi công tác, và bà cũng mong sự bình yên trong cuộc sống xóm làng nơi hậu phương.

Những câu thơ tiếp theo mênh mang nỗi niềm suy ngẫm, những chiêm nghiệm bồi hồi của người cháu về bà và về bếp lửa thân quen. Nghĩ về bà, người cháu nơi xa nhớ lại những kỷ niệm bên bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà. Đó là ngọn lửa thắm đượm tình yêu thương, sự hy sinh cao cả bà luôn ấp ủ:

  • “Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
  • Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”

Bên cạnh hình ảnh ngọn lửa nồng cháy của bếp lửa thân quen, ta cảm nhận được ngọn lửa tình yêu thương, ngọn lửa niềm tin, hy vọng luôn được lòng bà ấp ủ, thầm mong truyền đến cho người cháu phương xa. Điệp ngữ “một ngọn lửa” thêm nhấn mạnh về một tình yêu thương ấm áp, đủ đầy bà dành trọn vẹn cho người cháu thân yêu. Thắp lửa, giữ lửa và truyền lửa, phải chăng đó chính là hình ảnh người bà mà nhà thơ muốn gửi gắm tới người đọc qua những câu thơ giàu cảm xúc này. Những câu thơ tiếp theo là sự chiêm nghiệm sâu sắc của người cháu về sự tần tảo, hy sinh của người bà suốt bao năm tháng, về “lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”. Câu thơ cuối đoạn: “Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa” đã bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của người cháu xa nhà khi nhớ về bà và bếp lửa thân thương.

  • “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
  • Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
  • Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
  • -Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…”

Những câu thơ khép lại bài thơ chứa chan niềm khắc khoải khôn nguôi người cháu dành cho bà. Đó là lời tự bạch của người cháu khi rời xa vòng tay bà, xa xóm làng, quê hương yêu dấu nhưng trong lòng mãi hướng về xóm nhỏ nghèo, nơi ắp đầy tình thương yêu, nỗi mong ngóng của người bà tảo tần.

“Bếp lửa” là bài thơ chân thực, sinh động mà giàu cảm xúc đã góp phần khẳng định tài năng, tâm hồn nghệ thuật của nhà thơ Bằng Việt. Qua bài thơ, qua hình ảnh bếp lửa và người bà cùng những cảm xúc nhà thơ gợi ra cho người đọc, ta càng thêm yêu và trân trọng hơn hồn thơ Bằng Việt cũng như những sáng tác văn chương của ông.

Post Comment