Phần 2 Đề 30: Kể về một cuộc thăm hỏi gia đình liệt sĩ neo đơn.

Phần 2 Đề 30: Kể về một cuộc thăm hỏi gia đình liệt sĩ neo đơn.

Hướng dẫn

DÀN BÀI

a. Mở bài

– Em đến thăm gia đình liệt sĩ nào? Ở đâu? Nhân dịp nào? (Nhân dịp ngày Thương binh liệt sĩ hay dịp Tết Nguyên đán; việc làm thường xuyên hay đột xuất?). Lí do thăm hỏi.

b. Thân bài

– Thành viên trong đoàn gồm những người nào? Thái độ của mỗi người trong chuyến viếng thăm đó? (em có thể kể về tâm trạng nổi bật nhất của mình và của mọi người trên đường đến gia đình liệt sĩ)…

– Hoàn cảnh hiện tại của gia đình liệt sĩ:

+ Những điều em được chứng kiến về nơi ở của gia đình liệt sĩ (nhà cửa, vườn tược, ao chuôm, giếng nước; vật dụng trong nhà. Chú ý đây là gia đình liệt sĩ neo đơn nên cảnh nhà thường vắng vẻ, cô quạnh, hiu hắt; vật dụng trong nhà đơn sơ, không có các tiện nghi hiện đại, đắt tiền…).

+ Mức sống của thân nhân liệt sĩ (gợi ý: mức sống của người thân liệt sĩ không thể dự giả, sung túc, neo người nên gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống).

+ Sức khỏe của thân nhân liệt sĩ (người có tuổi nên thường đau yếu).

+ Đời sống tinh thần (u buồn, luôn thương nhớ người đã khuất).

(Trong quá trình kể, cần đan xen những đoạn bộc lộ cảm xúc của bản thân trước cảnh ngộ, số phận của người thân liệt sĩ).

– Đại diện của đoàn trao quà, động viên gia đình;

– Lúc chia tay, tâm trạng buồn thương, cảm phục…

c. Kết bài:

Cảm nghĩ của em sau buổi viếng thăm. Em sẽ làm gì kể từ sau ngày đến thăm gia đình liệt sĩ neo đơn đó?

BÀI LÀM

Uống nước nhớ nguồn là đạo lí truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Những hoạt động đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ các gia đình thương binh liệt sĩ, những người có công với Cách mạng là biểu hiện của đạo lí tốt đẹp đó. Nhân ngày 27 tháng 7 năm nay, cô giáo chủ nhiệm lớp đã đưa chúng tôi tới thăm gia đình liệt sĩ neo đơn ở một làng nhỏ yên tĩnh, ven thành phố. Đó là gia đình liệt sĩ Nguyễn Thanh Sơn.

Ngay từ sớm, chúng tôi đã tụ họp đông đủ trước sân trường. Cô giáo chủ nhiệm làm trưởng đoàn. Cả lớp đi xe đạp. Đông là thế nhưng tất cả đều trật tự và nghiêm túc. Dường như ai cũng hiểu được ý nghĩa thiêng liêng của hoạt động này.

Ngôi nhà nhỏ bé của liệt sĩ khuất sau lũy tre xanh mát. Chúng tôi đẩy nhẹ chiếc cổng tre khép hờ, bước vào chiếc sân nhỏ lát gạch Bát Tràng. Đây đó xuất hiện một vào đám rêu xanh ở góc sân. Khu vườn thoảng hương hoa dại. Ở góc vườn, cây vối khẳng khiu đối diện với cây khế quả sai trĩu cành. Những chiếc lá vàng rụng rải rác trên sân. Vài con chim sâu kêu lích tích. Cảm giác quạnh hiu buồn vắng xâm chiếm lòng tôi. Một bà cụ nhỏ bé, mái tóc trắng như cước, chống chiếc gậy trúc bước ra sân. Chúng tôi cất tiếng chào, bà cụ cười hiền hậu mời cô giáo và chúng tôi vào nhà. Đồ đạc trong nhà có phần xềnh xoàng, đơn giản. Ở gian giữa ngôi nhà kê một chiếc bàn thờ, mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm ngát. Trên bàn thờ có hai bức chân dung: hai người lính trẻ có gương mặt giống nhau như tạc. Họ tươi cười nhìn chúng tôi qua làn khói hương nghi ngút. Chiếc bàn gỗ mộc đơn sơ, bộ ấm chén sạch sẽ. Bà cụ mời cô giáo và chúng tôi uống nước. Bà bảo: Nước vối đấy các cháu ạ! Uống nước vối rất tốt cho sức khỏe! Tôi đỡ lấy chén nước bà đưa cho, uống một ngụm và chợt nhận ra mình chưa bao giờ được thưởng thức thứ nước uống nào thơm và ngon đến thế!

Loading...
Xem thêm:  Tả về anh trai của em văn học lớp 6

Chúng tôi lắng nghe câu chuyện của bà. Bà kể người trong hai bức ảnh là chồng và con trai của bà, liệt sĩ Nguyễn Thanh Sơn. Chồng bà hi sinh ở chiến trường Điện Biên Phủ lịch sử. Bà một mình nuôi anh Sơn khôn lớn. Năm 1970, anh xung phong đi bộ đội, mặc dù đủ tiêu chuẩn để đi học nước ngoài. Trước ngày lên đường, anh đã trồng cây vối và cây khế ngọt ở góc vườn. Anh bảo uống nước vối tốt cho sức khỏe của mẹ. Còn cây khế anh trồng là để dành cho lũ trẻ con. Nhà neo người, có trẻ đến chơi cho vui cửa, vui nhà. Anh hi sinh ở cửa ngõ Sài Gòn năm 1975. Bà nghẹn ngào: Cây thì còn, nhưng người thì mất. Những lúc nhìn cây, bà lại nhớ đến anh. Ngày ngày đám trẻ con lân cận vẫn sang chơi, hái nụ vối để bà pha nước uống và ăn khế ngọt trong vườn. Bác hàng xóm đã làm cho chúng một dụng cụ hái khế rất tiện lợi, không phải trèo cây mà vẫn hái được quả. Bọn chúng thích lắm, còn bà thì yên tâm, không sợ lũ trẻ bị ngã vì leo trèo. Chúng tôi theo bà ra vườn. Nhìn cây khế đong đưa quả nặng, nâng niu đón nhận những trái khế bà cho, tôi bỗng cảm nhận thấm thía tấm lòng hiếu thảo của người con trai dành cho mẹ. Cô giáo tôi bảo: Vị nước vối thơm và những trái khế ngọt của người con trai đã giúp bà vượt qua nỗi buồn đau, sự cô đơn để sống và hoài niệm. | Mấy bạn gái chăm chỉ đã mau mắn quét tước thu dọn sân vườn giúp bà. Lũ con trai lộc ngộc như bọn tôi, khỏe hơn, thì múc đầy bể nước, xén tỉa hàng rào râm bụt ở lối ngõ cho gọn ghẽ. Đúng lúc đó, một đám trẻ con hơn mười đứa cũng kéo sang. Chúng mang biếu bà một cá khoai luộc để bà tiếp khách. Mấy đứa tranh nhau kể cho bà nghe mọi chuyện trong xóm, ngoài làng và những trò tinh nghịch của chúng ở trường. Bà lắng nghe câu chuyện của đám trẻ, cười móm mém, hiền hậu. Bà bảo: Đám trẻ con hàng xóm ấy chính là con cháu của bà!

Chúng tôi tặng quà cho bà rồi xin phép ra về. Trên đường về, cả lớp tôi đều đạp xe lặng lẽ. Ai nấy đều theo đuổi một ý nghĩ riêng từ chuyến viếng thăm này. Còn tôi? Lòng nao nao với bao cảm xúc khó tả, tôi mơ hồ nhận ra ý nghĩa lớn lao, vĩ đại của sự hi sinh thầm lặng ở những người vợ, người mẹ Việt Nam. Một chút ngậm ngùi thương cảm đan xen niềm cảm phục vô bờ. Cảm phục, biết ơn người chiến sĩ đã hi sinh máu xương của

mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Cảm thương cho những người vợ, người mẹ liệt sĩ sống trong cô đơn, buồn nhớ suốt phần đời còn lại. Được hưởng hòa bình từ bao mất mát hi sinh từ các thế hệ cha anh, mỗi chúng ta hôm nay phải có những hành động thiết thực, hiệu quả trong việc đền ơn đáp nghĩa gia đình liệt sĩ để các anh an lòng từ thế giới bên kia.

Xem thêm:  Bài số 86: Tả một danh lam thắng cảnh ở địa phương

Theo Bailamvan.edu.vn

Đánh giá bài viết
Loading...

Từ khóa tìm kiếm:

  • bài văn kể về một cuộc đi thăm hỏi gia đình liệt sĩ neo đơn