Văn mẫu lớp 9

Cảm nhận về hình ảnh người bà trong bài “Bếp lửa” của tác giả Bằng Việt – 3 bài văn phân tích ngắn gọn hay nhất

Bằng Việt là một nhà thơ viết rất hay về tình cảm gia đình, nhất là tình bà cháu. Trong đó, không thể không nhắc tới bài thơ “Bếp lửa” trong trích tập “Hương cây – Bếp lửa” của Bằng Việt. Bài thơ ấm nồng trong hơi ấm của bếp lửa những ngày đói khốn khổ nhưng lại sáng lên hình ảnh bà cháu nương tựa lẫn nhau mà sống. Nhất là hình ảnh người bà tần sảo sớm khuya vừa là bà vừa là ba làm mẹ nuôi nấng cháu qua ngày đói, dạy cho cháu những điều hay lẽ phải. Hình ảnh người bà hiện lên trong bài thơ “Bếp lửa” mới đẹp biết chừng nào. Một hình ảnh thật đáng trân trọng và ngưỡng mộ. Đây là một bài thơ hay nên khi cảm nhận thì không phải là quá dễ dàng. Khi cảm nhận, chúng ta cần nắm rõ được hồn cốt, cảm nhận được sâu sắc nội dung thấm đượm trong bài thơ. Sau đây, các bạn có thể tham khảo một số bài văn mẫu để có cách nhìn và cách viết khác. Chúc các bạn học tốt!

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 CẢM NHẬN HÌNH ẢNH NGƯỜI BÀ TRONG BÀI “BẾP LỬA”

     Bằng Việt là một nhà thơ viết rất hay về tình cảm gia đình, nhất là tình bà cháu. Trong đó, không thể không nhắc tới bài thơ “Bếp lửa” trong trích tập “Hương cây – Bếp lửa” của Bằng Việt. Bài thơ ấm nồng trong hơi ấm của bếp lửa những ngày đói khốn khổ nhưng lại sáng lên hình ảnh bà cháu nương tựa lẫn nhau mà sống. Nhất là hình ảnh người bà tần sảo sớm khuya vừa là bà vừa là ba làm mẹ nuôi nấng cháu qua ngày đói, dạy cho cháu những điều hay lẽ phải. Hình ảnh người bà hiện lên trong bài thơ “Bếp lửa” mới đẹp biết chừng nào. Một hình ảnh thật đáng trân trọng và ngưỡng mộ.

     Hình ảnh bếp lửa “chờn vờn sương sớm” giàu tính chất tả thực, gợi lên hình ảnh một bếp lửa ẩn hiện bập bùng cháy trong làn sương khói của buổi sớm mai. Những đốm than hồng đỏ rực nồng đượm sự ấp ủ, được nhóm lên bởi bàn tay dịu dàng, cần mẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người bà. Đồng thời, cái bếp lửa ấy cũng chờn vờn trong tâm trí, trong nỗi nhớ ám ảnh của nhà thơ, ấp ui, trân trọng và giữ gìn. Từ đó đánh thức dòng hồi tưởng nhớ thương của người cháu về người bà – người nhóm lửa trong mỗi buổi sớm mai: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Cụm từ “biết mấy nắng mưa” gợi tả sự cần cù, chịu khó, vất vả, giàu đức hi sinh của người bà. “Thương” là tình cảm chân thành, xuất phát từ trái tim giàu tình yêu thương, sự sẻ chia vả bao hảm cả sự kính trọng, niềm biết ơn sâu sắc, cùng nỗi nhớ khôn nguôi của người cháu dành cho bà của mình.

        Sống trong thời buổi chiến tranh loạn lạc, biết bao gia đình phải li tán, thậm chí là sinh li tử biệt. Và Bằng Việt, một đứa trẻ phải sống dưới làn bom, mũi súng của kẻ thù cũng đã phải chịu cảnh xa cha, xa mẹ từ nhỏ. Bởi cha mẹ Bằng Việt cũng tham gia cách mạng, vì thế tất cả mọi thứ ở quê nhà, Bằng Việt đều sống trong tình yêu thương, bao bọc chở che của người bà kính yêu. Cho nên với Bằng Việt, bà là nơi giữ gìn tổ ấm, là chỗ dựa vững chắc giàu tình yêu thương, niềm tin tưởng, nuôi dạy Bằng Việt khôn lớn, trưởng thành suốt những năm ròng kháng chiến:

  •    “Mẹ cùng cha công tác bận không về
  •    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
  •    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
  •    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
  •    Tu hú ơi! chẳng đến ở cùng bà…”

        Bên bếp lửa, bà kể chuyện cho cháu nghe, bà bảo ban, dạy dỗ và chăm cháu học. Các động từ: “bà bảo, bà dạy, bà chăm” đã diễn tả một cách sâu sắc và thấm thía tình yêu thương bao la, chăm chút của người bà dành cho người cháu. Vì thế, bà trở thành ngọn nguồn ấm áp, vỗ về, nuôi nấng, chở che, giữ gìn tổ ấm gia đình và bà là sự kết hợp thiêng liêng cao quí của tình cha, nghĩa mẹ, công thầy trong những chuyến đi xa bận công tác của bố mẹ. Cho nên, người cháu luôn ghi lòng tạc dạ đức công ơn trời bể ấy của bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Chỉ một mình chữ “thương” thôi cũng đã đủ gói ghém tất thảy tình yêu thương, sự kính trọng và niềm biết ơn sâu nặng mà người cháu dành cho bà của mình. Trong những năm đất nước có chiến tranh, những khó khăn, ác liệt, biết bao nhiêu đau thương mất mát vẫn luôn in sâu trong tâm trí của người cháu. Và có một kỉ niệm trong hồi ức mà người cháu chẳng bao giờ quên được dù đã lớn khôn:

  •    “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
  •    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
  •    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
  •    Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
  •    “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
  •    Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,
  •    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

        Nỗi khổ sở, đau đớn khi giặc giã kéo về làng tàn phá, thiêu hủy nhà cửa, xóm làng, bà vẫn âm thầm chịu đựng, tự gắng gượng đứng lên chống đỡ nhờ sự đùm bọc, giúp đỡ của dân làng. Bà không muốn người con ở chiến khu biết được việc ở nhà mà ảnh hưởng đến công việc trong quân ngũ. Đó phải chẳng là phẩm chất cao quí của những người mẹ Việt Nam anh hùng trong chiến tranh. Ta đọc ở đây sự hi sinh thầm lặng, cao cả và thiêng liêng của người bà, người mẹ ở hậu phương luôn muốn gánh vác cùng con cháu, cùng đất nước để đánh đuổi giặc giã xâm lăng, đem lại bầu trời tụ do cho dân tộc. Lời dặn dò của người bà vẫn được cháu “đinh ninh” nhớ mãi trong lòng, được trích nguyên văn được nhắc lại trực tiếp khi người cháu viết thư cho bố càng cho thấy phẩm chất đáng quí biết bao của người bà. Vì thế, đến đây ta mới thấy được hết tất cả công lao to lớn của người mẹ Việt Nam đối với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Có được thắng lợi ấy không chỉ là sự đóng góp trực tiếp của những người lính trên mặt trận tiền tuyến mà còn có cả sự đóng góp lớn lao của những người phụ nữ ở hậu phương. Cho nên, đến đây chúng ta thấy tấm lòng của người thật rộng lớn mênh mông không chỉ dành riêng cho con cho cháu mà còn cho tất cả mọi người, cho quê hương, đất nước tươi đẹp này.

Xem thêm:  Đề kiểm tra học kỳ II Ngữ Văn lớp 9 tỉnh Gia Lai năm học 2017-2018

        Sau những đoạn thơ hồi tưởng về thời ấu thơ được sống cùng bên bà của mình, người cháu tiếp tục suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời của bà qua hình ảnh bếp lửa:

  •    “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
  •    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
  •    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

Từ “bếp lửa” bài thơ đã gợi đến “ngọn lửa” với ý nghĩa trừu tượng và khái quát. Bếp lửa bà nhen lên trong mỗi buổi sớm mai và buổi chiều tà không đơn giản chỉ bằng nguyên liệu của tự nhiên, mà cao hơn đã được tác giả nâng lên thành biểu tượng cho tình yêu thương và niềm tin trong sáng, mãnh liệt. Điệp ngữ “một ngọn lửa” vừa có ý nghĩa nhấn mạnh đến sự sống dai dẳng bất diệt của ngọn lửa; lại vừa có ý nghĩa thể hiện tình yêu thương mà người bà dành cho cháu. Ngọn lửa chính là hình ảnh khúc xạ cho tâm hồn, cho ý chí, nghị lực sống phi thường của người bà. Vì thế, bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người tiếp lửa, truyền lửa cho người cháu thân yêu. Đó là ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho thế hệ nối tiếp.

        Từ suy ngẫm về vai trò của người bà trong cuộc sống, tác giả tiếp tục khẳng định phẩm chất cao quí của người bà: tần tảo, giàu đức hi sinh và giàu lòng nhân ái:

  •    “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
  •    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
  •    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
  •    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
  •    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
  •    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
  •    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
  •    Ôi kì lạ và tiêng liêng – bếp lửa!”

Cụm từ “biết mấy nắng mưa” gợi lên cuộc đời của người bà vất vả, gian truân, lận đận nhưng vẫn sáng lên những phẩm chất thiêng liêng, cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Điệp từ “nhóm” (4 lần) bao gồm rất nhiều nghĩa, nói lên ý nghĩa cao cả của công việc mà bà vẫn làm mỗi sớm sớm, chiều chiều: Bà là người nhóm lửa và cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong mỗi gia đình. Từ “ấp iu nồng đượm” gợi tả công việc nhóm bếp và ngọn lửa luôn đượm than hồng bởi bàn tay khéo léo, cần mẫn, chi chút của bà. Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai còn nhóm lên cả niềm yêu thương, sự sẻ chia chung vui và tâm tình tuổi nhỏ của người cháu. Đến đây, hành động nhóm lửa của bà đâu đơn thuần chỉ là hành động nhóm bếp thông thường nữa mà cao hơn nó đã thành hình ảnh ẩn dụ biểu trưng cho ý nghĩa của công việc nhóm lửa của bà. Qua hành động nhóm lửa, bà muốn truyền lại cho người cháu hơi ấm của tình yêu, sự sẻ chia với mọi người làng xóm xung quanh. Và cũng chính từ hình ảnh bếp lửa, bà đã gợi dậy cả những kí ức tuổi thơ trong lòng của người cháu để cháu luôn nhớ về nó và đó cũng chính là luôn khắc ghi nhớ tới cội nguồn quê hương, đất nước của dân tộc mình. Từ đó bếp lửa trở nên kì lạ, thiêng liêng “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”. Từ cảm thán “Ôi” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng như phát hiện ra chân lí, điều kì diệu giữ cuộc đời bình dị. Bếp lửa và bà như hóa thân vào làm một, luôn rực cháy, bất tử thiêng liêng.

         Cho nên dù giờ đây, dẫu cho khoảng cách về không gian, thời gian có xa xôi, trắc trở “khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” nhưng người cháu vẫn luôn khắc khoải trong lòng nỗi nhớ khôn nguôi về bà, về bếp lửa: “Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở/ – Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…”. Sự tương phản giữa quá khứ và hiện tại, giữa “khói lửa” của cuộc sống hiện đại với bếp lửa bình dị, đơn sơ của bà đã cho thấy sức sống bất diệt của ngọn lửa mà bà nhóm lên trong mỗi sớm chiều luôn thường trực và sống mãi trong lòng của người cháu. Ngọn lửa ấy đã trở thành kỉ niệm của tuổi thơ về bà – một người truyền lửa, truyền sự sống, tình yêu thương và niềm tin “dai dẳng” bất diệt cho thế hệ tiếp nối. Chính vì thế nhớ về bà là nhớ về bếp lửa, nhớ về cội nguồn dân tộc. Bài thơ khép lại bằng câu thỏi tu từ thể hiện nỗi nhớ khôn nguôi và niềm hoài vọng xa xăm của người cháu luôn đau đau, thiết tha nhớ tới tuổi thơ, nhớ tới gia đình, nhớ tới quê hương, đất nước.

        Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt là một bài thơ dạt dào cảm xúc. Hình tượng bếp lửa được thể hiện độc đáo qua giọng điệu tâm tình, thiết tha; nhịp điệu thơ linh hoạt; kết hợp với lối trùng điệp được sử dụng biến hóa, khiến cho lời thơ với hình ảnh bếp lửa cứ tràn ra, dâng lên, mỗi lúc thêm nồng nàn, ấm nóng. Từ đó, khiến cho người đọc cảm thấy thật thấm thía, xúc động trước nỗi nhớ nhung da diết về những kỉ niệm ấu thơ của người cháu và cả tấm chân tình của nhà thơ đối với người bà kính yêu: tần tảo, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh, lòng vị tha và sự bác ái. Đó cũng là người bà trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh, là bao người mẹ, người chị dịu dàng, đằm thắm đã tô đậm trang sử vàng chói lọi của truyền thống người phụ nữ Việt Nam anh hùng. Khép lại bài thơ, hình ảnh người bà vẫn cứ lặng lẽ tỏa sáng, nhóm lên trong lòng người đọc tình cảm mến yêu, kính phục và cả lòng biết ơn sâu sắc.

Xem thêm:  Lòng tự trọng của mỗi người trong cuộc sống -Ngữ Văn 9

hinh anh nguoi ba - Cảm nhận về hình ảnh người bà trong bài "Bếp lửa" của tác giả Bằng Việt - 3 bài văn phân tích ngắn gọn hay nhất
Hình ảnh người bà trong lòng tác giả như cả 1 bầu trời tuổi thơ bầu trời ký ức trong hoàn cảnh xa bố và mẹ

BÀI VĂN 2 CẢM NHẬN VỀ HÌNH ẢNH NGƯỜI BÀ TRONG BÀI THƠ “BẾP LỬA”

Từ lâu hình ảnh người phụ nữ đã trở thành mạch nguồn xuyên suốt nuôi dưỡng văn học Việt Nam. Áng thơ về hình ảnh những người bà, người mẹ luôn chạm đến trái tim người đọc. Hình ảnh người bà trong “Bếp lửa” của Bằng Việt cũng là một trong số đó.

“Bếp lửa” được viết năm 1963, khi tác giả đang học tại Ucraina. Đây là thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ, còn nhiều gian khổ, khó khăn. Bài thơ được khơi nguồn từ hình ảnh bếp lửa giản dị, thân thương mà ấm áp, từ đó song hành cùng với người bà trong suốt mạch nguồn câu chuyện. Qua đó không chỉ khắc họa hình ảnh người bà, người phụ nữ Việt Nam với những vẻ đẹp truyền thống mà còn thể hiện niềm yêu kính, biết ơn và tình cảm đối với quê hương đất nước của người con xa xứ.

Hình ảnh người bà dần diện ra trong ngọn lửa ở những câu thơ đầu:

  • “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
  • Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
  • Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”

Bếp lửa hiện lên: “chờn vờn sương sớm”, là trong làn sương sớm mai hay là trong làn sương mờ tỏ của kí ức, của thời gian mà cháu đang cố ngược dòng để quay về? Ngọn lửa ấy ấm nóng bởi tình yêu thương, bởi bàn tay và tấm lòng ấp ủ của của người nhóm: “ấp iu nồng đượm”. Hai từ “ấp iu” đã đủ cho ta thấy sự ấp ủ, nâng niu và yêu thương của người nhóm lửa. Và rồi người ấy cũng hiện ra: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Hình ảnh người bà với “sương sớm”, với “biết mấy nắng mưa” chẳng phải là hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam luôn tảo tần, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh hay sao?

Những ngày chiến tranh loạn lạc, gian khổ khó khăn là những kỉ niệm không thể nào quên đối với cháu. Nhưng may mắn thay, trong những ngày tháng ấy, cháu lại có bà:

  • “Mẹ cùng cha công tác bận không về
  • Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
  • Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
  • Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
  • Tu hú ơi! chẳng đến ở cùng bà.
  • Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”.

Tuổi thơ của cháu thiếu thốn tình yêu thương của cha mẹ nhưng lại thật đủ đầy bởi sự bao bọc của bà. Một loại các hành động được liệt kê: “cháu ở cùng bà, bà bảo, bà dạy, bà chăm” đã khắc họa hình ảnh người bà tảo tần mà nhân hậu. Thương cháu, bà làm cha, làm mẹ để bảo vệ, dạy dỗ và nuôi nâng cháu lên người. Nhờ có bàn tay bà mà cháu mới có được ngày hôm nay. Để rồi cả cuộc đời bà chỉ gói trong hai chữ “khó nhọc”. Yêu thương vô bờ mà chẳng nghĩ cho mình. Hai chữ “khó nhọc” cất lên nghe mới xa xót và thấm thía làm sao, nó có cả cuộc đời bà và cả tình yêu của đứa cháu. Để rồi lại chuyển thành niềm thương, hối hận khi cháu giờ đây chẳng thể ở cạnh bà mà chỉ có thể nhắn gửi: “Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà”.

Đặc biệt hình ảnh người bà càng được khắc họa sâu hơn khi:

  • “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
  • Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
  • Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
  • Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
  • “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
  • Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,
  • Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!””

Bà hiện lên là một hậu phương vững chắc. Nơi hậu phương dẫu vẫn phải chịu những tổn thương và mất mát nhưng bà “vẫn vững lòng” và “dặn cháu đinh ninh”: “Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”. Câu nói giản dị, thân thuộc của khẩu ngữ thường ngày mà thấm thía bao nhiêu. Những người mẹ Việt Nam là thế, họ không trực tiếp ra trận nhưng họ là người đã sinh ra những anh hùng, là người chịu gạt giọt nước mắt riêng mà để con lên đường, và ở quê nhà vẫn không nguôi lo nghĩ cho người ngoài tiền tuyến. Những chiến công sau này của dân tộc, đã in bóng bao sự hi sinh thầm lặng của những bà mẹ Việt Nam anh hùng như thế.

Và rồi, hình ảnh bà nhập vào ngọn lửa để sáng lên:

  • “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
  • Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
  • Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

Từ “bếp lửa” cụ thể của câu trước sang “ngọn lửa” câu sau đã mang tầm khái quát và biểu tượng lớn hơn rồi. Bếp lửa bà nhen lên mỗi sớm mỗi chiều không phải chỉ bằng than, củi tự nhiên mà còn bằng cả tấm lòng bà “luôn ủ sẵn”, “chứa niềm tin dai dẳng”. Ngọn lửa kia có thể cháy suốt tuổi thơ của cháu chính bởi vì nó được nhóm lên bởi ngọn lửa yêu thương, bởi niềm tin trong sáng và nhân hậu trong lòng bà. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa cho cháu, cho thế hệ mai sau.

Từ đó mà tác giả suy ngẫm về bà, về cuộc đời bà:

  • “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
  • Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
  • Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
  • Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
  • Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
  • Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
  • Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
  • Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

Cụm từ “biết mấy nắng mưa” được lặp lại như để nhắc nhớ lại những gian khó, vất vả mà bà phải chịu đựng. Từ đó làm sáng lên những phẩm chất, vẻ đẹp cao quý của bà. Từ bàn tay của bà đã nhóm lên “bếp lửa ấm iu nồng đượm” sưởi ấm cháu suốt một thời tuổi thơ. Từ bàn tay bà đã nhóm lên “niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”, rất giản dị, đơn sơ mà thấm đượm ân tình. Từ bàn tay bà mà tình làng nghĩa xóm thêm gắn bó, yêu thương: “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”. Và chính bà đã nhóm lên ước mơ, khát vọng và tương lai của cháu sau này. Điệp từ “nhóm” lại đầu mỗi câu thơ để khắc họa hình ảnh người bà: người nhóm lửa, người truyền tải và lan tỏa yêu thương, ân nghĩa, ước mơ và niềm tin cho xung quanh và cho cuộc sống. Để rồi Bằng Việt phải thốt lên: “Ôi! Kì là và thiêng liêng – bếp lửa”. Nó kì lạ và thiếng liêng vì nó đơn sơ mà thắm tình,, nó giản dị mà có thể nhóm lên bao tình nghĩa, ước mơ.

Xem thêm:  Đề 15 – Thuyết minh về một đồ vật gần gũi trong đời sống(Kính đeo mắt) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9

Nhờ ngọn lửa của bà, giờ đây, cháu đã ở nơi vùng trời mơ ước “Có khỏi trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” – có cuộc sống đủ đầy và tiện nghi nhưng trong lòng vẫn khôn nguôi nhớ về bà, khôn nguôi câu hỏi: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

Những câu thơ giản dị, dễ hiểu đã khắc họa một cách chân thực mà sâu sắc hình ảnh người bà, người mẹ Việt Nam tảo tần, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh, niềm tin và nghị lực. Như hình ảnh người bà trong “Tiếng gà trưa” (Xuân Quỳnh), trong “Đò Lèn” (Nguyễn Duy), đó chính là cội nguồn sức mạnh của mọi đứa con và mọi chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Bài thơ khép lại trong hơi ấm và ánh sáng. Ngọn lửa của người bà năm xưa đã cháy trong tâm hồn thế hệ độc giả từ bao giờ…

nguoi ba trong bep lua - Cảm nhận về hình ảnh người bà trong bài "Bếp lửa" của tác giả Bằng Việt - 3 bài văn phân tích ngắn gọn hay nhất

BÀI VĂN MẪU SỐ 3 CẢM NHẬN VỀ HÌNH ẢNH NGƯỜI BÀ TRONG “BẾP LỬA” LỚP 9 CỦA BẰNG VIỆT NGẮN GỌN

Hình ảnh người bà trong bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt là một trong những hình tượng đẹp, niềm cảm hứng sâu sắc về người bà hiền hậu, phẩm chất tốt đẹp.

Hình ảnh “bếp lửa” là hình ảnh chủ đạo xuyên suốt bài thơ, là nơi khơi nguồn cảm xúc nỗi nhớ, hồi tưởng về người bà kính yêu. Ở phương xa, người cháu dù không bên cạnh bà nhưng tâm trí luôn hướng về quê nhà, nơi có gia đình, có bà và có cả những kỉ niệm tuổi thơ khi còn nhỏ:

  • Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
  • Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
  • Cháu thương bà biết mấy nắm mưa.

Hình ảnh bếp lửa “chờn vờn sương sớm” là hình ảnh giàu chất tả thực, gợi lên hình ảnh một bếp lửa ẩn hiện bập bùng cháy trong làn sương khói của buổi sớm mai. Bếp lửa ngày ngày hồng đỏ rực là nhờ có bàn tay của bà và nồng đượm sự ấp ủ, bàn tay ấy dịu dàng, cần mẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người bà. Đồng thời, hình ảnh cái bếp lửa ấy cũng ám ảnh và theo suốt trong tâm trí nhà văn, hết mực trân trọng và giữ gìn. Từ đó đánh thức dòng hồi tưởng nhớ thương của người cháu về người bà – người nhóm lửa trong mỗi buổi sớm mai. Người bà hiện lên với hình ảnh chắt chiu, tuy khó khăn nhưng luôn quan tâm cháu hết mực lúc đất nước đang trong cảnh đói kém, loạn lạc. Bà vẫn âm thầm, lặng lẽ góp nhóm lửa với khói bếp hun nhèm mắt cháu mà đem tấm lòng mình, muốn đem những thứ tốt nhất để nuôi dưỡng cháu. Đến những khổ thơ tiếp theo, người bà hiện lên qua lời kể của đứa cháu về những kỉ niệm một thời khi cháu còn nhỏ.

  • Mẹ cùng cha công tác bận không về
  • Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
  • Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
  • Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
  • Tu hú ơi! chẳng đến ở cùng bà…

Bà giống như người mẹ hiền, thay vai trò của mẹ để nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo ban cháu từng ngày. Có lẽ nỗi nhớ mong da diết và sự thiếu thốn tình cảm của bố mẹ khi xa nhà đã vơi bớt phần nào khi có sự đùm bọc, yêu thương che chở của người bà. Bà chính là tổ ấm, nơi che chở vững chắc, chỗ dựa thoải mái, bình yên cho cháu. Vì thế, bà trở thành ngọn nguồn ấm áp, vỗ về, nuôi nấng, chở che, giữ gìn tổ ấm gia đình và bà là sự kết hợp thiêng liêng cao quí của cha mẹ. Cho nên, người cháu luôn khắc ghi tình cảm thiêng liêng của bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Chữ “thương” đã tất cả tình yêu thương, sự kính trọng và niềm biết ơn sâu sắc, tình cảm  mà người cháu dành cho bà. Bà phải khổ cực biết bao trong những năm đất nước có chiến tranh, những khó khăn, ác liệt, và cả bao mất mát:

  • Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
  • Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
  • Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
  • Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
  • “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
  • Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,
  • Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

Bà dù chịu khổ nhưng không muốn cho con biết. Đó phải chẳng là phẩm chất cao quí của những người mẹ Việt Nam anh hùng trong chiến tranh. Sự hi sinh thầm lặng, cao cả và thiêng liêng của người bà, người mẹ ở hậu phương luôn công lao to lớn nhất, là động lực cho những chiến sĩ mạnh mẽ đối mặt với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Những dòng thơ cuối tuôn trào như nỗi xúc động tha thiết mãnh liệt khiến cho hình ảnh người bà cùng bếp lửa hiện lên càng chân thực và sống động. Bà là người nhóm lửa, giữ lửa và cũng là người khiến cho ngọn lửa ấy cháy sáng bất diệt, bà cũng là người nhóm lên ngọn lửa của yêu thương để sưởi ấm tuổi thơ cháu trong suốt cuộc đời, kỉ niệm về bà là những kỉ niệm tuyệt nhất, sâu sắc nhất để rồi dù có đi xa, có khói trăm tàu, có điện trăm nhà thì cháu vẫn khôn nguôi “sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”.

Post Comment