Văn mẫu lớp 11

Cảm nhận về bài thơ Câu cá mùa thu (Thu Điếu)

Cảm nhận về bài thơ Thu Điếu

Tổng hợp top những bài làm văn viết cảm nhận về bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của nhà thơ Nguyễn Khuyến hay nhất. Mời các bạn đọc tham khảo và dựa vào đây viết cho mình bài văn cảm nhận về bài thơ thật hay. Chúc các bạn luôn luôn cố gắng học tập tốt và đạt được kết quả cao.

Cảm nhận về bài thơ Thu Điếu – Bài làm 1

Cuối thế ki XVIII đầu thế kỉ XIX, tưởng chừng như cùng với sự kết thúc của chế độ xã hội phong kiến suy tàn, lạc hậu, nền văn học Việt Nam trung đại sẽ rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc với một phương thức phản ánh đã lỗi thời. Nhưng thật kì lạ là trong sự suy thoái tưởng chừng đã đến đỉnh điểm ấy lại xuất hiện một tài năng thơ ca vào hàng xuất chúng như Nguvễn Khuyến. Ông giống như một dấu cảm thán khẳng định tính cổ điển có sức lay động lòng người của văn học trung đại vào giai đoạn cuối cùng của thời kì văn học dài hàng chục thế kỉ này. Ông để lại cho quê hương, cho đất nước một di sản văn chương phong phú, đồ sộ. Nhưng nói đến nhà thơ Nguyễn Khuyến, người đọc mệnh danh ông là nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam, vì ông đã viết nhiều bài thơ hay về cảnh làng quê. Đặc biệt là chùm thơ thu của ông, trong đó có bài thơ Thu điếu:

cam nhan ve bai tho thu dieu - Cảm nhận về bài thơ Câu cá mùa thu (Thu Điếu)

Cảm nhận về bài thơ Thu Điếu hay nhất

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

 Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối buông cần, lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Chùm thơ ba bài Thu vịnh, Thu ẩm và Thu điếu. Bài nào cũng hay, cũng đẹp cho thấy một tình quê dạt dào. Riêng Thu điếu, mà nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam, là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc: Cảnh mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.

Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ tinh tế, hình tượng là biểu cảm. Cảnh thu, trời thu của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngòi bút thần tình của Nguyễn Khuyến.

Hai câu đầu:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Nhà thơ hầu như không hứng thú gì với chuyện câu cá mà đắm say với không khí cảnh sắc mùa thu, ngay câu đầu nhà thơ đã gọi cái ao của mình là ao thu, và với tính chất lạnh lẽo nước trong veo thì đó đúng là ao thu chứ không phải là môi trường thích hợp cho việc câu cá, bên cạnh đó cảm hứng của nhà thơ hoàn toàn đắm chìm trong cảnh sắc mùa thu, một cảnh trong và tĩnh gần như tuyệt đối, nước trong veo, trời xanh ngắt, khách vắng teo, giác quan của nhà thơ cực kì tinh nhậy và phải hết sức chăm chú thì mới nhận ra được những biểu hiện nhỏ nhặt tinh vi chỉ làm tôn thêm cho cái trong và tĩnh của một khung cảnh đầy màu sắc:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Màu biếc của sóng hòa hợp với sắc vàng của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật trong phần thực rất điêu luyện, lá vàng với sóng biếc, tốc độ vèo của lá bay tương ứng với mức độ tí của gợn sóng. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ "vèo" trong thơ Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được câu thơ vừa ý trong bài Cảm thu, tiễn thu:

Vèo trông lá rụng đầy sân

Đến câu luận:

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Không gian được mở rộng, bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời xanh ngắt với những tầng mây lơ lửng trôi theo chiều gió nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là xanh ngắt. Ở Thu vịnh là "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao", Thu ẩm là "Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt", và Thu điếu là "Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt."

Xanh ngắt là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (xám) mà xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Xóm thôn vắng lặng, tĩnh mịch, con đường quanh co, heo hút, không một bóng người qua lại.

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong giấc mộng thu. Tất cả cảnh vật, từ mặt nước, "ao thu lạnh lẽo" đến "chiếc thuyền câu bé tí teo", từ "sóng biếc" đến "lá vàng", từ "tầng mây lơ lửng" đến "ngõ trúc"… đều hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh thoáng chút bâng khuâng, man mác, rất gần gũi, thân thiết với mọi người Việt Nam.

Biết bao thời gian trôi qua trong không gian của sáng tĩnh mịch ấy, tư thế ngồi câu cá của ông như cũng bất động trong thời gian:

Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Tựa gối buông cần là tư thế đợi chờ mòn mỏi của người câu cá. Người xưa có kẻ lấy câu cá làm việc đợi thời, đợi người xứng đáng để phò tá. Văn thơ truyền thống lấy việc câu cá để từ chối việc làm quan và coi câu cá là việc câu người, câu quạnh, câu lưỡi. Bài thơ Thu điếu này cũng thể hiện khát vọng câu thanh, câu vắng cho tâm hồn của một nhà thơ có phẩm chất thanh cao.

Cái âm thanh cá đớp động gợi lên sự mơ hồ xa vắng, đánh thức tỉnh.

Bài thơ Câu cá mùa thu là một bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, nét vẽ xa gần tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa vèo trong làn gió thu, tiếng cá đớp động chân bèo – đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước.

Thơ là sự cách điệu tâm hồn, Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình đồng quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh, chúng ta thêm yêu quê hương, thêm yêu xóm thôn, đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

Cảm nhận về bài thơ Thu Điếu – Bài làm 2

Nguyễn Khuyến– một nhà thơ nổi tiếng với những bài thơ viết về mùa thu. Với tuyển tập những bài thơ như: thu điếu, thu vịnh, thu ẩm, và cũng nhờ chúng chùm thơ về mùa thu này đã giúp Nguyễn Khuyến trở thành nhà thơ hàng đầu viết về mùa thu. Những câu thơ ẩn chứa trong những bài thơ về mùa thu của ông nhẹ nhàng dễ đi vào lòng người, sẽ không ai có thể quên, khi nhắc tới thơ về mùa thu Việt Nam, và Thu Điếu là một trong 3 bài thơ đặc sản của thơ văn viết về mùa thu.

Xem thêm:  Dàn ý Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm - Văn mẫu lớp 11

Được mệnh danh là một nhà thơ của làng cảnh Việt Nam,ba bài thơ về mùa thu của Nguyễn Khuyến đặc biệt là Thu điếu đã trở thành một trong những bức tranh mùa thu đặc sắc của văn học Việt Nam. Với nét đẹp của mùa thu được thi vị hóa, trở thành một bức tranh độc đáo. Lần lượt xuất hiện là những hình ảnh của làng quê việt nam, ao nước, mặt hồ, những hình ảnh hết sức bình dị và gần gữi với cuộc sống của con  người Việt Nam

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Mở đầu bài thơ là hình ảnh đan xem giữa con người và cảnh vật, “ao”, “nước tỏng veo”, “chiếc thuyền câu”, đây là những hình ảnh thân thuộc thường xuyên bắt gặp tại các làng quê. Nhưng theo cảm nhận của nhà vân thì bức trang đó có hồn riêng, khác hẳn với sự quan sát của mọi người. “ Ao thu lạnh lẽo nước tỏng veo” một hình ảnh ao nước mùa thu hòa quyện với sự hơi se lạnh đặc trưng của mùa thu gợi cho người đọc có thể cảm nhận được mùa thu đang xuất hiện ngay chính mắt mình. Nhưng tiếp đến hình ảnh con người được nhà văn miêu tả bằng “ chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, giữa một bức tranh mùa thi mênh mang,rộng lớn, con người xuất hiện hoàn toàn nhỏ bé, giống như một nét chấm trên bức tranh

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Tiếp đến là hình ảnh của những con sóng, theo ngòi bút của nhà thơ Nguyễn Khuyến, những con sóng không dữ dội mà trái lại những con sóng nhẹ nhàng “ theo làn hơi gợn tí”  cho thấy sự yên tả, sự bình yên của bức tranh làng quê. Trước bức tranh mộc mạc lại kết hợp với màu sắc của “ lá vàng” làm nổi bật thêm màu sáng của bức tranh. Ở đây, tác giả lại lựa chọn màu vàng để làm nền cho bức tranh của mình là bởi, màu vàng là mầu đặc trưng của mùa thu. Không chỉ dừng lại ở đó, tác giả còn tô thêm cho bức tranh mùa thu của mình trở nên có hình động, động từ “ vèo” được tác giả sử dụng cho thấy sự chuyển động mạnh mẽ của thời khắc giao mùa. Nghệ thuật trong phần thực rất điêu luyện, lá vàng với sóng biếc, tốc độ vèo của lá bay tương ứng với mức độ tí của gợn sóng. Cách hiệp vần ở mỗi cuối câu khiến cho ta đọc lên cảm thấy không gian vừa rất tĩnh lại vừa thu hẹp lại, tâm điểm của bài thơ được nổi bật và tập trung điểm nhìn hơn.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Bức tranh mùa thu còn được Nguyễn Khuyến mở rộng đến tận trời xanh, “ tầng mây”, “ trời” là những hình ảnh rất đỗi chân thực nhưng bầu trời của nhà văn lại mang màu sắc khác, “ tầng mây lơ lửng”, “ trời xanh ngắt” mở ra cho người đọc một không gian mênh mông của cao, vừa rộng, vừa xa

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Hình ảnh tre, trúc là hình ảnh rất đổi thân quen của mỗi bức tranh làng quê Việt Nam, và nhà văn cũng vận dụng những hình ảnh hết đổi thân thương đấy vào trong tác phẩm của mình. Thay vì phải dùng các hình ảnh đẹp, lạ, thì với thơ của Nguyễn Khuyễn ông chỉ vận dụng những hình ảnh gắn liền với làng quê. Làm cho cảnh vật càng trở nên êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt chìm vào không khí vắng lặng của mùa thu. Tất cả cảnh vật, từ mặt nước đến ao thu lạnh lẽo đến chiếc thuyền câu bé tí teo, từ sóng biếc đến lá vàng, từ tầng mây lơ lửng đến ngõ trúc… đều hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh có chút bâng khuâng, man mác, rất gần gũi, thân thiết với mọi người Việt Nam. Biết bao thời gian trôi qua trong không gian của sáng tĩnh mịch ấy, nhưng tư thế ngồi của người buông cần câu như cũng bất động trong thời gian:

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Tư thế của người câu cá là tư thế tựa gối ôm cần kết hợp với tiếng động của “ cá đâu đớp động dưới chân bèo” tạo cảm giác cho mọi người muốn được quay về với làng quê, sống trong không gian của mùa thu.

“Thu điếu” là một bài thơ mùa thu đặc sắc với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình độc đáo. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả băng những gam màu đậm nhạt, nét vẽ xa gần tinh tế gợi cảm.  m thanh của những sự vật cũng trở nên tinh tế dưới tài quan sát và sự nhạy bén của tác giả. Hình ảnh quen thuộc bình dị là những chất liệu để dệt nên những hồn thơ hay như thế

Là một nhà thơ của làng quê Việt Nam, với những từ ngữ hết sức phong phú nhưng cũng hết đỗi bình dị, sẽ giúp cho người đọc cảm nhận rõ nét hơn về một bức tranh phong cảnh. Qua đó thể hiện được tìn yêu quê hương, đất nước, con người của nhà thơ, thấy được giác quan tinh tế của nhà vân khi nhìn và vẽ lên được một bức tranh mùa thu vừa có cảnh, có hồn, lại có màu sắc.

Cảm nhận về bài thơ Thu Điếu – Bài làm 3

Mùa thu – mùa của lá vàng bay, mùa của những cảm xúc buồn thương man mác…và là mùa của những nhà thơ trao gửi những suy tư lẫn nỗi niềm không tên. Nguyễn Khuyến – một thi sĩ với tâm hồn đơn sơ và giản dị đã có những vần thơ rất gần gũi, thân quen miêu tả cảnh sắc nhẹ nhàng của mùa thu. Tác phẩm mang tên “Câu cá mùa thu”. Đây là bài thơ nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Theo Xuân Diệu, “Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh”.

Thu điếu chỉ vỏn vẹn tám câu thơ nhưng cảnh sắc mùa thu đã được Nguyễn Khuyến gói gọn một cách rất tài tình:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Lúc này, mùa thu đã nhuốm vàng cả đất trời, cả cảnh sắc thiên nhiên. Mọi thứ xung quanh nhà thơ đều chuyển động rất nhẹ nhàng, tinh tế và tĩnh lặng. Ông đã dùng từ “ao thu” như để gói gọn trọn vẹn cả mùa thu vào cái ao “lạnh lẽo nước trong veo”. Trong cái ao ấy lại duy nhất chỉ có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. “Bé tẻo teo” nghĩa là rất bé, bé xíu. Nguyễn Khuyến đã cố tình miêu tả như vậy để diễn tả sự vắng lặng của mùa thu ở chốn thôn quê thanh bình, yên tĩnh. Và dường như không gian thu hẹp lại chỉ quanh chiếc ao nho nhỏ với “sóng biếc theo làn hơi gợn tí”. Mọi sự chuyển động vẫn duy trì ở mức hết sức nhẹ nhàng và im ắng. Nhưng đến lúc này, ánh nhìn của nhà thơ đã hướng lên không trung, lên nơi có những chiếc “lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. Mọi thứ có vẻ như đều nằm gọn trong sự quan sát của nhà thơ.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ đây thôn vĩ dạ

Đến ngay cả cách mà chiếc lá vàng rơi ông cũng nhìn nhận rất tỉ mỉ. Lẽ ra, một người khi câu cá chỉ tập trung để ý đến sự rung động của chiếc phao để giật cần đúng thời điểm cá cắn, đâu còn tâm trí để ý mọi thứ xung quanh. Nhưng ở đây, trường hợp câu cá của Nguyễn Khuyến lại không diễn ra như vậy. Ông quan sát cặn kẽ và tinh tế tất cả những thứ quanh mình. Ông nhìn ao, nhìn thuyền, nhìn lá vàng rơi, rồi ngước lên trên bầu trời xanh ngắt với những “tầng mây lơ lửng” trôi. Thiên nhiên quang đãng, dưới đất chỉ có một chiếc ao nhỏ với cái thuyền “bé tẻo teo”, còn trên cao là cả bầu trời bao la, xanh ngắt. Sự đối lập của tự nhiên dường như hàm chứa cả những nỗi niềm của người đang ngắm cảnh. Đúng như Nguyễn Du từng viết:

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Ở đây, Nguyễn Khuyến không nói mình buồn nhưng qua cách miêu tả cảnh thu, ta dễ dàng nhận ra cảm xúc xao xuyến, băn khoăn của ông. Có thể không ai hiểu những nỗi niềm ấy, nhưng trong từng vần thơ đã phần nào nói lên tâm trạng của tác giả. Đâu đâu ta cũng thấy những nỗi buồn phảng phất cùng sự quạnh hiu, trống vắng:

“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Lại một lần nữa ta bắt gặp vần “eo”, “eo” gợi lên sự nhỏ bé, cô đơn và có phần buồn tủi. Đã thế Nguyễn Khuyến lại miêu tả “ngõ trúc quanh co” càng làm tăng sự vắng vẻ của mùa thu chốn thôn quê thanh bình mà tĩnh lặng. Và rồi, ông cũng vẫn nhận ra rằng mình đang câu cá:

“Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

Phải chăng đây là lí do mà ông vừa câu cá vừa ngắm nhìn cảnh sắc xung quanh? Bởi cá không chịu cắn câu hay bởi vì ông không để ý đến cần câu? Dù hiểu theo nghĩa nào thì hàm ý sâu xa trong câu thơ ấy vẫn là những nỗi niềm suy tư của tác giả. Việc câu cá chỉ là cái cớ để ông nói lên nỗi lòng mình, là dịp để ông bắt gặp mùa thu vắng vẻ của thôn quê. Mùa thu đẹp nhưng buồn. Một nỗi buồn không tên. Một nỗi buồn man mác và cũng nhẹ nhàng như chiếc lá vàng đang bay trong gió thu.

Nhan đề bài thơ là “câu cá mùa thu” nhưng có lẽ là “ngắm cảnh mùa thu” sẽ đúng hơn. Vì tác giả không hề để ý đến việc câu cá, xuyên suốt tác phẩm chỉ là những chuyển động nhẹ nhàng của cảnh thu. Đặc biệt trong câu thơ cuối “Cá đâu đớp động dưới chân bèo”, tác giả vừa tả thực vừa hàm ý những suy nghĩ của bản thân. Vốn dĩ lúc này, Nguyễn Khuyến đã về quê ở ẩn, ông sống xa cách với lối sống bon chen, tất bật nơi quan trường thị phi lẫn lộn. Nhưng không phải vì thế mà ông bỏ mặc việc nước việc nhà, trong lòng ông lúc nào cũng canh cánh những nỗi lo cho vận mệnh đất nước cùng những khát khao, những ước mơ về một ngày mai tươi sáng.

Đọc bài thơ, ta không những thấu hiểu được tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước của Nguyễn Khuyến mà còn cảm nhận được một tâm hồn “trong veo” của con người suốt cả một đời nguyện sống khiêm nhường, từ tốn, không ham mê danh vọng, tiền tài. Chỉ tám câu thơ ngắn gọn nhưng đó là cả một mùa thu, một miền quê và một đời người tĩnh lặng, sạch trong.

Cảm nhận về bài thơ Thu Điếu – Bài làm 4

Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn, có đóng góp không nhỏ trong nền văn học trung đại Việt Nam. Ông thường mang vào trang thơ của mình những cảnh sắc đẹp đẽ, bình dị của làng quê yên bình. Thu điếu là một trong nhứng bài thơ đặc sắc nằm trong chùm thơ thu (thu điếu – thu vịnh – thu ẩm) của Nguyễn Khuyến. Bài thơ là một bức tranh thiên nhiên mùa thu vắng lặng, lạnh lẽo và đượm buồn, đồng thời cũng thể hiện tình yêu thiên nhiên trong tâm hồn người thi sĩ.

Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã giới thiệu khái quát không gian, địa điểm thân thuộc và yên tĩnh của một buổi câu cá mùa thu:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẹo teo”

Hình ảnh “ao thu” đặc trưng của làng quê Việt Nam bước vào trang thơ Nguyễn Khuyến thật chân thực.  Mở ra trước mắt người đọc là cái ao mùa thu vùng chiêm trũng đất Bắc. Nhà thơ dùng tính từ “trong veo” để miêu tả “ao thu” ấy, trong veo chỉ sự trong vắt, trong đến mức mà người ta có thể nhìn xuống tận đáy hồ. Có lẽ, thời điểm này không còn là thời điểm chớm thu nữa mà là thời điểm giữa mùa thu hoặc cuối thu nên mới “lạnh lẽo” đến thế, chứ không se lạnh hay lành lạnh. Câu thơ gợi ra một khung cảnh với ao thu trong veo, trong vắt, tĩnh lặng nhưng lại lạnh lẽo, quạnh hiu. Giữa khung cảnh của một ao thu rộng và lạnh lẽo ấy lại xuất hiện thêm một chiếc thuyền nhỏ, càng làm cho không gian trở nên lạnh lẽo. Giữa cái rộng của ao thu đối lập với chiếc thuyền câu đã bé lại còn “bé tẹo teo” khiến cho hình ảnh chiếc thuyền trở nên nhỏ bé hơn, cô đơn hơn. Hai câu thơ mở đầu đều được nhà thơ gieo vần “eo” khiến không gian câu cá mùa thu trở nên lạnh lẽo mang một chút buồn.

Nếu như hai câu thơ đầu, nhà thơ giới thiệu cảnh sắc buổi câu cá mùa thu thật tĩnh lặng, thì ở những câu thơ tiếp theo, cảnh sắc mùa thu lần lượt hiện lên sống động hơn:

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

Câu thơ bắt đầu xuất hiện sự chuyển động của vạn vật mùa thu, dù sự lay động ấy chỉ nhẹ nhàng, khee khẽ. Người thi sĩ vẽ lên những hình ảnh “sóng biếc” chỉ “hơi gợn tí” còn “lá vàng” cũng chỉ “khẽ đưa vèo”. Hai từ “hơi” và “khẽ” thể hiện sự chuyển động rất nhẹ nhàng trong cảnh sắc mùa thu. Hẳn là thi nhân Nguyễn Khuyến phải tinh tế lắm mới nhận ra sự khe khẽ đó của thiên nhiên. Hình ảnh “sóng biếc” gợi cho người đọc một màu xanh biếc trên mặt ao trong, một màu xanh rất đẹp mắt và có sắc thái biểu cảm. Không chỉ có sóng biếc mà “lá vàng” cũng được đưa vào thơ Nguyễn Khuyến một cách tinh tế. Người ta thường nói mùa thu là mùa thay lá, mùa lá vàng và rụng xuống. Bởi thế mà lá vàng đã từng bước vào rất nhiều trang thơ thu. Trong thơ về mùa thu, Lưu Trọng Lư có viết:

“Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô”

Nhà thơ tiếp tục miên man tả cảnh sắc mùa thu êm đềm khi hướng tầm mắt ra xa hơn với bầu trời thu:

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Đọc câu thơ, người đọc hình dung ra một bầu trời mùa thu cao vời vợi. Bởi lẽ một bầu trời cao trong vời vợi mới có một màu xanh ngắt. Nếu bên dưới ao thu được điểm tô là màu “biếc” của sóng thu, màu vàng của “lá” thu, thì ở ý thơ này lại là một màu “xanh ngắt” bao la, ngút ngàn. Và trên bầu trời thu ấy là những “tầng mây” đang “lơ lửng”. Từ láy “lơ lửng” diễn tả trạng thái dùng dằng, có trôi nhưng lại rất khẽ, rất thờ ơ của những đám mây. Dường như mùa thu cả không gian đất trời, cảnh sắc đều như trôi chậm lại. Nhà thơ trở lại với cảnh vật bên dưới, phía xa xa của những con ngõ nhỏ. Hình ảnh “ngõ trúc” hiện lên thật hoang vắng. Từ láy “quanh co” cùng “vắng teo” thể hiện một con ngõ ngoằn nghoèo, quanh co và không một bóng khách, gợi sự cô đơn, heo hút, man mác buồn.

Xem thêm:  Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ

Trước khung cảnh tinh lặng, quạnh quẽ và lạnh lẽo của mùa thu, nhà thơ trở lại với buổi câu cá mùa thu:

“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

Xung quanh cái u buồn, vắng lặng của mùa thu, thi sĩ trở lại tập trung câu cá để khiến tâm hồn thêm thư thái. Hình ảnh “tựa gối” chỉ sự chăm chú nhưng đầy nghĩ suy thật lâu trước cảnh sắc đượm buồn mùa thu. Miên man trong những dòng cảm xúc buồn, cô đơn ấy nên khiến nhà thơ giật mình khi có chú cá nhỏ “đớp động dưới chân bèo”. Câu thơ cho thấy tậm trạng suy tư của nhà thơ, cảm giác buồn, một nỗi buồn xa vắng. Nhà thơ sáng tác bài thơ này khi ông về ơ ẩn nơi thôn quê. Nếu đặt vào hoàn cảnh sáng tác bài thơ, người đọc càng hiểu hơn cái tình trong thu điếu. Bởi bài thơ còn chất chứa cả một nỗi buồn thời thế, nhà thơ buồn cho thời buổi loạn lạc, lầm than lúc bấy giờ nhưng có ai để sẻ chia, giãi bày.

Thu điếu là một bài thơ đặc sắc của nhà thơ. Bài thơ là một trong những tác phẩm tiêu biểu khi viết về mùa thu. Đọc bài thơ người đọc ấn tượng bởi cảnh sắc mùa thu đẹp và tĩnh lặng cùng tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Khuyến, đồng thời cũng cho thấy những nỗi niềm thời đại, tình yêu nước thương dân dạt dào trong trái tim thi sĩ.

Cảm nhận về bài thơ Thu Điếu – Bài làm 5

Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nhận xét rằng “Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Ông đã cống hiến cho nghệ thuật, cho cuộc đời bộ ba bài thu Thu điếu, Thu ẩm và Thu Vịnh. Tất cả đều tả về mùa thu nhưng mỗi bài đều mang một sắc thái và tinh thần riêng biệt.

Nếu ở Thu Vịnh cảnh thu được đón nhận từ cao tới gần, thì cảnh thu trong Thu điếu được đón nhận từ không gian gần tới cao xa rồi lại từ cao xa trở về gần.Từ chiếc thuyền câu “bé tẻo teo” nhìn ra mặt áo, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu, với thuyền câu. Bắt đầu từ một khoảng ao hẹp. không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu mở ra cho người đọc nhiều hướng sinh động

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Tầng mây lwo lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Mùa thu với những nét dịu dàng, mơ màng thông qua màu sắc đường nét. Màu sắc dịu nhẹ hòa nhịp cùng với nước trong veo tạo nên một bức tranh đa sắc màu. Thơ xưa khi viết về mùa thu thường dùng các hình ảnh mang tính chất ước lệ như “Sen tàn cúc lại nở hoa”- trong truyện Kiều thì mỗi khi nhắc tới mùa thu là thi hào Nguyễn Du lại nhắc tới hoa cúc, nhưng cũng nói về mùa thu vị thi hào tài ba này lại viết “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”. Bằng bút pháp ước lệ cùng với những nét bút sáng tạo nhà thơ Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một bức tranh thu điển hình của làng quê Việt Nam

Ta thấy trong bài thơ có nhắc tới “tầng mây lơ lửng” giữa một trời thu xanh ngắt đến “ao thu lạnh lẽo” với những con sóng “hơi gợn tí”, từ “chiếc thuyền câu bé tẻo teo” đến “ ngõ trúc quanh co khách vắng teo”, tất cả đều là sự thật. Cảnh vật trong thơ ông như đưa người đọc trở về với quê hương Bình Lục, nơi ông được sinh ra và lớn lên. Làng quê ấy có những ngôi nhà mái ngói đỏ, ao cũng nhỏ, chiếc thuyền câu  bé tẻo teo và dáng người cũng trở nên bé lại.

Cảnh thu trong Thu điếu của Nguyễn Khuyến vừa “vắng” vừa “lặng”. Một khung cảnh vắng người và lặng tiếng.Sâu thẳm trong cái “ngõ trúc”  ấy  ta cảm tưởng dường như mọi thứ đang ngừng trôi, cả không gian và thời gian mọi thứ như ngừng lại. Tác giả dùng từ “vắng teo” để tả cái không gian ấy, phải chăng đây không đơn thuần chỉ là vắng mà còn là một không gian quá đỗi lặng yên đến hiu hắt. Thật tài tình biết bao phải không các bạn khi Nguyễn Khuyến đã đề “vắng” sánh đôi cùng “lặng” trong nét vẽ tả mùa thu ấy. Cái không gian ấy im ắng đến mức mà nhà thơ có thể cảm nhận được âm thanh của một chiếc lá rơi. Đây không phải là âm thanh chiếc lá ấy tạo ra khi chạm tới mặt đất mà âm thanh này được tạo ra từ khi chiếc lá ấy lìa cành và hòa vào với gió. Liệu ngoài Nguyễn Khuyến đã ai cảm nhận được những âm thanh nhạy cảm đầy tinh tế ấy chưa, những tâm hồn trận trụi như chúng ta thì không thể nào “cảm” được cái âm thanh ấy bởi phải yêu quê hương lắm, cái tâm phải tình lắm mới cảm được “chiếc lá rơi vèo”, tiếng cá đớp mồi dưới ao “cá đâu đớp động dưới chân bèo”

Trong bức tranh câu cá mùa thu ấy màu xanh được chọn làm màu nền. Từ “xanh ao, xanh bờ, xanh sóng” đến màu xanh của “trời”, màu xanh của “tre” và cả màu xanh của “bèo”, những màu xanh ấy ở các mức độ xanh khác nhau nhưng chúng đã hòa vào nhau để tạo nên một bức tranh thu xanh trong đến lạ thường.

Ẩn sâu trong bức tranh ấy ta thấy toát lên một tâm hồn ngư ông – một ông lão say mê câu cá đang mượn thiên nhiên để khỏa lấp bớt nỗi lòng rối bời của chính mình. Người thi nhân ấy đang trầm ngâm suy nghĩ về thời thế. Dường như chính ông đang đi tìm một nơi tĩnh lặng, tĩnh đến mức lạnh người như trong bài thơ ông đã vẽ. Phải chăng khi đã trải qua nhiều gian nan, khó khăn con người ta như muốn tìm cho mình một nơi yên tĩnh để ẩn náu, để tự nhìn về thời thế và suy nghĩ lại bản thân. Nơi ấy giúp chúng ta tĩnh lại “tâm hồn” của chính mình.

Bài thơ Thu Điếu đã đưa người đọc về với không gian tĩnh lặng, sâu lắng  đầy tinh tế trong tâm hồn nhà thơ Nguyễn Khuyến. Đây như một cuốn phim hồi ức của chính  nhà thơ hồi tưởng về quê hương, vừa mang trọng trách như một cuốn nhật kí ghi lại những băn khoăn, trăn trở, nghĩ suy về thời thế của chính tác giả.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn viết cảm nhận về bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của tác giả Nguyễn Khuyến hay nhất các bạn học sinh giỏi đạt điểm cao. Chúc các bạn viết cho mình một bài văn cảm nhận về bài thơ Thu Điếu thật hay và đạt được điểm cao.

Post Comment